Chào mừng quý vị đến với website của Huỳnh Hoàng Thám!
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Chuyện nỏ thần (Chương 4 & 5)
Chương IV
Các làng đã vào mùa hội săn. Những chân bãi ngập nước từ đầu làng trải ra, mới hôm nào còn loáng như mặt đầm, bây giờ đuôi lúa đă rập rờn thành làn rì rào gió thổi. Những đŕn chim chích, chim bạc má bay về, sà xuống ríu rít bắt sâu cắn lúa. Quanh nhà, sực nức mùi hoa chanh, hoa bưởi. Con chim nhẹ nhàng lẩn vào bóng hoa. Hạt mưa đầu mùa đêm qua còn đọng lại trên lá, bây giờ rơi lẫn xuống những cánh hoa chanh như vẩy trấu tim tím. Chim tu hú cất tiếng gióng giả. Vào đầu mùa còn râm mát, đâu cũng nhàn rỗi đợi gặt hái. Sáng sớm, các làng đổ đi săn. Tối lại về thui hươu nai, ăn uống rồi vui tập roi, tập vật. Đâu cũng một quang cảnh ấy. Dạo ấy, chỉ có hai anh em Đống và Vực mới về với mẹ ở nhà. Bố bận việc quân trong thành trên Kẻ Chủ. Đống đă xốc vác chẳng khác bố ngày trước. Vực thấp bé nhưng lẳn mình trắm. Ngày nào cũng đi sông nước như chạy nhảy trên bộ. Tinh mơ, Đống ra trước ngõ, tay cầm tù và. Đống giơ nghiêng ốc, đưa lęn miệng, thổi một hơi dài. Tiếng ốc rền xa. Lác đác, tiếng đáp lại. ấy lŕ các nơi đă biết hiệu cùng nhau sắm sửa ngày săn. Rồi anh em Đống vắt lęn vai bộ lưới săn chất cao hơn đầu. Tay xách lao, khoác nỏ, lưng giắt lủng lẳng đầy khít ống tęn. Mẹ ngồi dệt trước cửa. Cuốn cửi sợi tơ chuốt quấn vào lưng đã dày một ôm. Mẹ đứng dậy, ngừng tay ném thoi, cởi cuốn đặt xuống, bước ra xe thęm chỉ. Quả dọi đá kéo sợi tơ cŕng quay tít tròn. Mẹ nhìn Đống và Vực xăm xăm đi, nói theo:
-Nghe hươu về kêu ở rừng trám đęm qua nhiều đấy.
Các đầu ngő đă lố nhố người ra, tay lăm lăm ngọn giáo. Hai người khięng bộ lưới săn hổ săn gấu to như chăo. Mỗi lúc càng đông. Cả nhà cả xóm đi phường săn. Người tụ lại một đám, ngóng về phía rừng báng bờ sông Lú đợi hiệu cồng. Ngoài bãi cửa rừng, một đám trẻ lơ láo nhìn theo người chạy đi chăng lưới bắt hươu. Đống bước qua, nói to:
-Không đi chia phần thịt hươu với phường săn a? ở nhŕ làm gì? Tiếng lao xao nói:
-Đęm qua có sấm mới, cuốc ra nhiều lắm. Đống vŕ Vực nhớ đương můa bẫy cuốc. Mới năm trước, můa này, hai anh em với các bạn lứa tuổi còn mê mải làm bẫy cuốc. Cành lá móc diều sum suê cắm đầu bãi cỏ. Sáng sớm, chập tối, khói bếp trong xóm lan ra, bay là là như sương. Mỗi tàu lá một đứa ngồi núp dưới, bắt chước tiếng cuốc gọi nhau: quắc... quắc... Những con cuốc đen đốm trắng béo mượt mŕ chui vào chỗ cành móc diều có tiếng "quắc quắc". Người núp sau tàu lá chỉ việc giơ tay nắm từng con vừa bay nhảo tới. Bây giờ Đống và Vực chê bắt cuốc là trò chơi trẻ con rồi. Đến lúc phường săn đă vào hết trong rừng. Làng vắng ngắt. Chỉ còn mấy em bé gái tha thẩn ra bờ bãi nhặt cua, bắt nhái. Trong nhà, các bà già dệt cửi đánh chỉ. Những con dọi đá quay ra tận đầu ngő, chỗ đám trẻ đương xúm xít vặt lông, thui cuốc. Khói um lęn cây bưởi. Đŕn chim bạc má vừa bay vào, lại hốt hoảng nhún chân lao đi. Hoa bưởi rụng lốm đốm trắng mặt cỏ. Đám trẻ ăn thịt cuốc rồi hết cách chơi. Thế lŕ cùng nhau ùa vào rừng theo phường săn. Những đŕn chó săn con đen, con vện, cung cúc chạy, rúc đánh hơi từng bụi těm vết hươu. Tiếng chó sủa lắc rắc, nhúc nhắc. Phía nào cũng nghe, mỗi lúc càng xa. Rồi bỗng nhiên các góc rừng nổi tiếng cồng. Tiếng cồng như âm u từ trong lòng đất. Thoạt nghe tiếng đục lờ tận đâu rồi cứ vang dần. Đến lúc đầu rừng nŕo cũng nổi cồng, giục giã, dồn thúc. Mọi người vác lưới à à chạy tỏa ra. Người cầm giáo xỉa tới tấp vào các lùm cỏ. Mỗi cánh lưới chăng dài căng qua một phía. Mấy chục người, cách quãng lại kéo một mảng quây tròn vây một vùng rừng.
Tiếng cồng đuổi các con thú trong rừng hoảng chạy. Những mảnh lưới, những ngọn giáo, những tay nỏ chỗ nào cũng nhấp nhô, lủa tủa. Tiếng chó sủa dẫn người vào mãi trong rừng rậm. Rừng báng, rừng trám xanh cuồn cuộn, đương loạn tiếng tù và, tiếng người hú, tiếng cồng, tiếng chó sủa. Như cả một dải bờ sông bên này các làng đã vào phường săn. Những tiếng khua khoắng hò la cứ dồn dần ra bờ sông. Người lưới, người xách giáo bủa thành vòng vây áp ra tới mép nước. Chốc lại thấy một con nai hoảng hốt, lõm bõm bơi qua sông. Một con hươu đã thoát sang được bờ cát bên kia. Hươu đứng ngơ ngác nhìn lại. Rồi bỗng chạy bay biến vào bãi ngô lủa tủa cao ngập đầu người. Các đám phường săn lấm như vůi từ các cánh rừng đă trở về. Người nào cũng mồ hôi ròng ròng thấm ướt khố như lội dưới sông lên. Đòn ống trĩu trên vai người trước, người sau. Những con nai bị trói chổng bốn vó. Có con to, phải bốn cái đňn lồng vào khiêng mới xuể. Những con chó săn lúc nãy hăng hái nhảy xuống nước. Con vện, con đen ướt lướt thướt. Từ sáng, đă mệt, mõm lê xuống đất, đụng cả vŕo chân người. Xúm xít người xuống chọc tiết nai dưới bờ sông. Trước cửa nhà Đống, mấy con nai được khięng lên, lẳng xuống đấy, đợi thui. Đến tối, cŕng nhộn nhịp. Đám các cô giă gạo đứng chŕy đôi. Những cối giă gạo đęm cốt lấy nhịp chơi. Chày khua vào vách gỗ, vang tiếng cung kênh, cung kênh rộn rã. Tiếng chày vóng lên như tiếng chiêng đúm đánh đôi. Tiếng chŕy lóng đôi vui tai. Bọn trai lŕng đương giội nước lŕm lông nốt con hươu, cũng phải cất lời "hầy dô", như đám nhŕ chài đương đẩy mảng tręn sông Cái. Các lão bà nhai trầu phóm phém vào bắc bếp đồ xôi. Cuối bãi, đám thui nai đă lên lửa. Các cụ phường thui vốn khéo có tiếng thui trâu đánh giặc từ hồi chạy Tần. Các lão ông vẫn rắn rỏi quắc thước lắm. ạng lão cầm chiếc mo nang, phảy vào nạm than rơm hồng rực.
-Nhẹ tay thôi, không thì cháy hết da. Cái giống nai, bì mềm như da gà. Quá lửa, khét ngay. Lúc nãy, nghe xa có tiếng sấm rền, mấy ông lão ngước nhìn trời:
-Thong thả, cứ thong thả. Sấm mới như người ta sôi bụng. Tối nay rằm, có thịt nai chén, hội võ hội hát suốt đêm cũng được. Mọi việc cũng cứ sắp sẵn xong cả trước lúc trời tối. Mấy chiếc hũ đại đă được khięng đến. Cái chĩnh, những cần trúc, chiếc sừng trâu đong nước được bŕy ra. Vò nếp để các lão bà nhấm nháp ngồi xem vật, xem hát cũng đã được xách tới. Hôm nay có trăng sớm. Những con voi đă vác vào một đống củi. Rồi voi lầm lũi, hì hục vươn vòi khiêng nữa về. Xong việc, cả mấy con nằm phủ phục cạnh đống củi. Như đương xem đám người bộn rộn. Hay voi ngủ, không biết. Lũ trẻ cứ chạy rối lęn. Chẳng mải ăn bao nhięu, mà thích dọn dẹp. Để chúng được xem đấu roi, vő vật. Một lũ vừa ôm rơm đến cho đám thui. Bọn kia đă nhanh nhảu vác những cây roi vẫn gác dựng lên đằng đầu nhŕ. Mỗi roi, cả một cây tre đực dŕi, hun từng đốt, thẳng đuỗn. Vừa khuân vừa nghịch. Hai đứa gác chéo ngọn roi, chặn nhau, vào đấu. Tay nọ gạt tay kia, ngã cười choe choé. Vầng trăng đă nhô trên bãi ngô bên kia sông. Thoạt trông trăng, nhợt nhạt lướt thướt như vừa từ mặt nước chui lên. Rồi cứ trong óng dần. Đến lúc đă vằng vặc sáng vàng như chiếc chiêng đồng nhà trời. Đám ăn uống. Đám thi rượu cần. Đám gő lóng cất tiếng hát. Đám sắm sửa ra đấu roi. Chỗ nŕo cũng bóng trăng in ngần. Đống củi không phải lęn lửa nữa. Giữa bãi, hai tay Đống nắm cây roi, từ nãy đã gạt ngã được mấy người. Trong bóng trăng, bắp vai Đống nổi lên. Có người hạ ngang roi giữ thế. Cũng không chịu được lúc hai roi áp vào nhau, đành buông tay, kêu:
-Thôi! Thôi! Đúng con ông Đô Nồi! Xung quanh cười ầm. Lúc ấy, có mấy thớt voi lạ tiến vŕo lù lù như những cây rơm đội ánh trăng đi. Tiếng reo dậy lęn từ ngoài.
-ạng Đô đă về! ạng Đô đă về! ạng Đô Nồi không đợi voi cong vňi lên đỡ, đă nhảy thẳng trên lưng voi xuống. Những voi đi sau, đám quân quan theo ông Đô từ Kẻ Chủ về, lố nhố người thong thả xuống voi. ạng Đô Nồi nói to:
-Về gặp cái ăn tốt tươi thế nŕy là điềm lành trời cho rồi.
ạng Đô Nồi đến chắp tay vái chŕo các cụ đương ngất ngưởng với chiếc sừng trâu ao nước cầm trịch giữa mười chiếc ống trúc cắm tręn chĩnh rượu cần. Hai bên thi tài ngồi xếp bằng, năm trai năm gái. Mới nghe rằng Chẳng mấy khi mấy thuở Mấy bữa mấy ngày Chim bay lạc ngõ Gió bay lạc ngàn Có mái chim trĩ hoa đài tràn chân đến nhởi. Một cụ già nhất đám cung kính hai tay bưng đến trước mặt ông Đô Nồi một sừng rượu. Đống vŕ Vực đă bỏ bãi đấu, bước vào vái chào bố. ạng Đô Nồi nói:
-Có đi ra mới biết thiên hạ còn lắm thế roi nòi. Mỗi nơi lại có những miếng lạ. Roi người kẻ Ninh Hải khác roi trong Cửu Chân. ở Dương Tuyền lại khác nữa. Không phải chỉ nhất roi Chiêm Trạch sông Lú đâu. Mọi người xúm lại, nghe ông Đô Nồi chuyện, cứ trầm trồ:
-ồ là vậy! ồ là vậy! ạng Đô Nồi hào hứng:
-Lại nhiều tay nỏ giỏi lắm. Rồi kể:
-ạng Đô Lỗ vừa mới nghĩ ra được tęn mũi đồng có móc câu. Mỗi lňng máng nỏ lắp một dãy mười tên. Dây nỏ bện da trâu, không khoẻ không giương nổi. Một cánh bắn ra cả mười mũi.
-Ghê thật! Ghê thật!
-Các lò vật người ta cũng nổi lắm. Miếng mói, miếng sườn khác lò ta. Lại còn móc chảo, vỉa lộn cối, miếng thần miếng biến không biết đằng nào trở tay. ạng Đô Nồi bảo Đống vŕ Vực:
-ở lò nhà, học được miếng các cụ truyền lại, tưởng đă là tận cùng lò võ. Kịp ngày cố ạng Trọng dạy cho miếng roi, miếng vật nòi, lại tưởng thế là hết các lò rồi. Bây giờ mới biết không phải vậy. Các cõi nước ta ở đâu có người, đấy có người tŕi, không biết thế nào là hết. Các con phải học như thế mới được. ạng Đô Nồi lại nói:
-Rồi mai kia lên Kẻ Chủ, nơi sáu quân tụ hội, ta phải ra sức. Cụ lão nhất đám hỏi:
-ạng Đô cho hai chú lęn ở hẳn Kẻ Chủ? ạng Đô Nồi nói to:
-Tất cả làng hai bên sông đều lên Kẻ Chủ. Tôi về đây là vì việc ấy. Mọi người nhao nhao:
-Thế nào? Thế nào? ạng Đô Nồi ngửa mặt, tu cạn sừng rượu, rồi chẹp chẹp miệng:
-Cái nếp này chưa ngấu, còn hơi sượng. Nấu rượu không vội được, mà việc gì cũng không vội được. Làng nước đã có tin về quân Triệu đương lăm le bờ cői ta chưa? Một người nói:
-Dẫu biết rồi, cũng không lật đật, ông vừa bảo thế mŕ. Mai hẵng lập phường săn vŕo rừng lấy thịt nai vui với Nồi hầu về chơi làng đã. Nhiều người cười ồ:
-Phải đấy, phải đấy. ạng lăo giơ tay, kêu:
-Ngày trước quân Tần phạm vào ta đã phải khốn đến thế, bọn Triệu giương mắt ra mà không biết gương tày liếp sao! ít hôm sau, người dọc sông Lú với người các nơi lũ lượt kéo về Kẻ Chủ. Cả voi, ngựa, trâu kéo xe quệt.
Mấy ngày liền, xe trâu đưa lên từng bồ tên nỏ, giáo mác, đinh ba. Người đâu đổ ra lắm thế, cơ man người. Không phải chỉ có người một vùng. Mà nghe tin quân Triệu dòm ngó, các nơi rầm rập về giữ Kẻ Chủ. Tường thành đá ong vàng rực uốn vòng tròn lớp trong lớp ngoài, xoáy cao lên. Người đi khuất rồi, lại gặp lại bóng trên bậc đá quanh co. Cứ cách sải tay, đến một bệ đá. Những cánh nỏ hun đă lên nước bồ hóng, một loạt nghiêng lỗ chỗ một khoảng trời. Lại thêm nỏ mới của ông Cao Lỗ, lòng máng nằm mười mũi tên sáng choé. Những toán quân đeo nỏ rầm rập lên. Đi lẫn vào quân quan, lũ lượt những người trong thành ngoài thành. Người quảy gông cỏ, người vác nước, người xách giáo. Người tất tả theo con ngựa chở trên lưng ống vầu đựng nước sóng sánh với bước vó cất. Người theo những thớt voi, những đŕn ngựa thồ nỏ, áo giáp da trâu, những ró gạo nếp... Voi ngựa từ các nơi xa về. Người lần lượt đóng cọc dựng lều, chăng dây chỗ tŕu ngựa, bãi voi rồi chia lên các ngả trên mặt thành. Người người chen chân mọi công việc bộn rộn. Những cây gạo vừa trổ hoa, khắp cành xù xì bỗng rực rỡ đỏ. Ngã năm đường vŕo chợ, người lấy nước sớm xúm quanh các khuôn đá bờ giếng thơi, đương thě thào ghé tai. Một người vác nước dựng cây vầu đứng nghỉ, tựa vào cổng thành. Người quảy gông cỏ dừng lại bên khuôn đá miệng giếng.
-Nghe nói quân Triệu đă vào đến Núi Trâu rồi, có phải vậy?
-ạ là vậy. Cũng nghe thế.
-Có gì quản ngại không?
-Giặc đến thě vua chủ cho ta đánh giặc. Chẳng có gě quản ngại cả. Rồi người quảy cỏ thong thả trèo lên mặt thành, mở hai cánh gông thả cỏ xuống cho ngựa ăn. Người vác nước xuống bậc đá, đi khuất vŕo trong phường. Phía phường người ở, có chợ. Người đội, người quảy, người vác, người đánh trâu, người đuổi voi tất tả về phía ấy. Vẫn như mọi ngŕy ở phường ra chợ. Chỉ khác cái, ngoài các cửa thành lũ lượt vào những đoàn người, những thớt voi, những toán ngựa, những xe quệt trâu kéo nặng kĩu kịt. Quân quan các cõi đã về giữ thành, chập tối còn tấp nập.
Người ra lấy nước ngoài giếng lại hỏi nhau:
-Có đáng quản ngại không?
-Nó cũng bằng nước lũ thôi. Quân Tần đấy, ta biết rồi.
-Là thế nào?
-Là dữ đến mấy thì rồi lũ cũng ra bể cả... Quân Triệu đương kéo đi đông đặc bęn kia sông. Chẳng phải chỉ có quân thám thính về báo mà cứ trông những đàn quạ, đàn cò vỡ tổ bay tán loạn từ phía trên về, cũng biết đương có đông người lắm xô đẩy xuống. Mặt nước vŕ các bờ tre, bờ rừng đă xao xác cả. Trên mặt thành, vua Thục oai nghiêm đứng xắn một bên ống tay áo. Tay kia rút dải khăn chŕm trên đầu quấn xuống làm thắt lưng. Tóc xõa liền với hàm râu quai nón. Vua Thục chống tay vào bậc đá nhìn ra. Ngày đêm, quân quan đã sắp đặt quanh thành. Vua chủ hội các tướng lại, chia bọn. Mỗi cánh trấn mỗi phía. Ba anh em Phạm Chung, cửa tây. Bố con Nồi hầu đi với tướng quân Cao Tứ. Các ông Đinh Toán, Đinh Công Tuấn sang mặt bắc, cůng với những tay nỏ người Đồng, người Dao, người Cật tręn ngược về. Những ống lệnh dựa vào tường thành. Đấy là những cây bương ngộ đã phơi nỏ, kín hai đầu vấu. Đốt bương tức hơi vỡ mắt, cái ống nỏ rền như sấm lệnh, lŕm lệnh. Cao Lỗ bước ra, tay xách chiếc chiêng đại. Các tay nỏ đă lên chi chít như một dải chông cắm mặt thành. Mỗi quãng, một quan lạc tướng đứng nghiêm chăm chắm chờ chiêng lệnh.
Trên thành cấm. Xung quanh thềm đá, khói trầm đen sẫm bốc nghi ngút. Giữa bệ, cỗ nỏ thần uy nghi như con voi to nhất đŕn phủ phục chầu ra. Lòng máng nỏ dài mười sải, vành tròn một ôm bằng cả khuôn mặt cái trống đại. Một hàng tên cột đồng to như những cây gỗ mỡ, sáng loáng, nhô đầu tręn cánh nỏ. Mỗi bên hai mươi quân nỏ cao lớn, cởi trần, quì một gối. Bốn mươi lực sĩ hai vế, dang tay kéo nỏ. Mỗi cánh nỏ dài bằng cây luồng ngộ, ghép mảng nửa ống một buộc ken thừng da trâu như chiếc cột vút đầu, nặng mà dẻo lạ lùng. Hai đầu cánh từ từ vít xuống. Đến lúc dây nỏ khớp được vŕo máng, cả tám mươi cánh tay lực sĩ kiệt sức, ngã cả ra. Một lúc sau, mới đứng dậy được. Mấy chục đô khác đă lại vào túc trực thay tay sẵn bên bệ đá. Vua Thục hỏi Cao Lỗ:
-ạng xem ta cho chiêng lệnh hạ nỏ đã vừa chưa? Cao Lỗ nhìn ra rồi nói:
-Đợi lúc quân Triệu bắt đầu lội, hẵng ra tay. Tiếng quân Triệu hň hét. Nghe ầm ầm chuyển động như cơn dông đến bęn kia sông. Cao Lỗ cung kính chắp tay:
-Vua chủ cho lệnh.
Vua Thục phất tay áo. Cao Lỗ quay ra, lên đứng trên mỏm đá đầu tường thŕnh, giơ cánh tay đánh một důi vào núm chiêng. Bốn góc thành nổi lên những tiếng chiêng lệnh nối theo. Vua Thục bước lên bậc đá, đặt tay vŕo lẫy nỏ. Những mũi tên xé gió bay ra, tiếng oàng lên như sét đánh liên tiếp. Nỏ bắn hết sức sầm nhiệt, náo động cả bốn phía mặt thŕnh. Trên thành cấm, mỗi toán lực sĩ kéo cánh nỏ kiệt sức ngã lăn ra, lập tức, các lực sĩ khác xô vào. Tiếng chiêng lệnh trong tay Cao Lỗ phát dồn dập, nhịp bắn liên tiếp hoa mắt như chớp giật. Lại những toán lực sĩ kéo cánh nỏ rão hết gân tay, bắp chân bị chuột rút co quắp lại. Toán ấy chưa dậy được, toán khác đăvào vực ra. Lại toán khác vội vã quì nghiêng một gối, vươn tay với cánh nỏ, bắp vế nổi cuồn cuộn. Chiêng thúc càng liên tiếp, dào dạt. Dây nỏ vừa khớp được vŕo lòng máng, những lực sĩ đã căng sức, đờ mắt, mặt tái mét, ngă ra. Chiêng lại thúc dồn. Không kịp lôi những người ngã nữa. Những toán khác nhảy ngay vào quì chen giữa những người vừa ngã ra, vươn tay kéo nỏ. Người vít cánh nỏ tới tấp, xung quanh ngổn ngang những người nằm thở. Mấy chục lực sĩ khác đă nhô vào... Người chồng đống lên nhau vào kéo cánh nỏ. Cũng lúc ấy, khắp các mặt thành, từng làn tên theo nhịp trống thúc, vun vút. Những lằn nỏ nối tiếp bắn ra, mờ mịt thành từng làn sương phủ khắp mặt sông. Bên kia sông, tiếng quân Triệu đương náo động như những trận mưa rŕo xô xuống đằng ấy. Bỗng nhięn, lặng không -như đám mây lặng lẽ tan. Suốt tận chân trời đục mờ, chỉ cňn thấy những cánh bãi xơ xác cỏ lau. Đôi chỗ, nhô ra những cây gạo hoa đỏ giơ cŕnh lõa lợi như máu. Hai con ngựa lạc lõng giữa sương mù. Hai con ngựa cất vó loạng quạng. Cả hai người cưỡi ngựa phóng chạy chết. Không trông thấy nhau. Không nhận ra nhau. Đến một quãng trống trước mặt, giật mình ngỡ tới bờ sông. Hai người nhảy xuống ngựa, quờ tay ra lần tìm đường.
-Trời cao đất dŕy ơi! Trời cao đất dŕy ơi!
-Ai đấy?
-Im im. Có tiếng ngựa đương đuổi theo?
-Đây đă qua Vũ Ninh rồi.
-Nhưng cũng chưa phải chỗ đứng lại được. Hai người như hai chiếc bóng nửa mờ nửa tỏ trong khoảng không. Ngơ ngác. Nghe. Chờn vờn. Rờ rẫm. Một lúc thật lâu. Bốn phía rùng rợn lặng im.
-Có nhớ các quan ở Phiên Ngung ta còn bao nhiêu quân. Kho binh lương trữ được thế nào? Thục Phán! Thục Phán! Nửa năm nữa, nửa năm nữa thôi, tao quyết lại hỏi tội mŕy. Đŕn ngựa lại chạy. Vùng chân trời xám thẫm đùn đùn ập lại. Các làng bên này sông đã nhìn ra đấy không phải cơn mưa đůn lên mà là đám ngựa đen kịt. Những con ngựa sống sót đă chồn rục gối mà chưa qua cơn sợ. Không biết đương cất nước chạy hay chân đăkhập khiễng. Cứ xốc lên rồi lại chúi xuống. Đàn ngựa cuồng chân, chùn chân, người cũng không thúc lên được, cứ luống cuống quanh quẩn. Bụi đất đỏ cŕng lầm lên. Mãi đến lúc đŕn ngựa chui ra khỏi đám bụi mů mịt người ta mới trông thật rõ thấy những con ngựa tan đàn ở đâu, chạy lạc tới. Rồi đŕn ngựa ấy cuốn cả vào vòm trời tối đen. Không một đốm lửa, không thể nhận ra được đâu lŕ bãi ngô, nương dâu, dòng sông. Ngôi sao hôm lóng lánh trên bóng đêm âm u phẳng lặng. Chỉ có ở dưới sông trông lên mới thấy nhấp nhô bóng ngựa loạng choạng tới.
-Dừng lại đây, dừng lại.
-Không còn đường nào đi được. Sông chắn mất lối rồi.
-Thôi, thôi.
-Cấm lửa.
-Đứa nŕo đốt lửa, chém ngay. Giữa lúc ấy, trong vůng trời mù mịt, bốc xanh lè suốt một dải cả nghìn vạn đuốc đóm đằng kia chập chờn, vůn vụt đến. Gě thế kia? Người đuổi! Người đuổi! Quân Thục đuổi ta kia! Từng đám người ngựa rú lęn, ngã vật. Những đốm sáng xanh miên man ào đến, xanh lạnh rợn qua trên mặt, trên đầu.
-Đom đóm! Đom đóm! Vô vŕn con đom đóm đang bay qua, như đuổi người. Tiếng hoŕn hồn kêu lên:
-Đom đóm, đom đóm!
Nhưng có người vẫn nhắm mắt, la thất thanh.
-Trời ơi! Chết mất! Chết mất! Lát sau, cả trận đom đóm sáng xanh lại lặn vŕo bóng tối.
Rồi, chỉ một lúc, đám người ngựa lử lả tręn bờ sông đă lặng như không. Vừa còn nghe tiếng móng ngựa gãi muỗi cột cột, bỗng chốc đã im hẳn. Mùi hôi người hôi ngựa bốc lên nặng nề. Như cả đàn voi, đàn trâu quây lại ngủ giữa rừng. Trên mặt sông, chợt nghe tiếng nước rả rích lạ tai. Không phải tiếng vỗ bờ. Mà nước mạn thuyền óc ách, cứ soàn soạt một dải dài. Nhiều thuyền đương từ phía bờ bên trổ ra. Từng toán người rời thuyền, từ mép nước đi lên. Lần lần về phía mùi nồng nặc mồ hôi. Tiếng ngáy rền rền. Lúc rống. Lúc nức nở. Những tiếng quát như giựt bóng tối lên. Những phát tên mũi đồng vút đi, sáng loè, như cả trăm ngôi sao đổi ngôi xięn ra một lúc. Trước mặt, vỡ tan tiếng ngựa hí, người rống. Tiếng òng ọc máu phun. Tiếng gào khóc. Tiếng hét. Tiếng vó ngựa đập, ngựa vừa chạy vừa hộc ra những tiếng rùng rợn trong trời tối thui. Không biết cứ thế chạy đi đâu suốt đęm, hay đến chỗ nŕo. Người ngựa quân Triệu rụi xuống từng đám.
Chương V
Lại bắt đầu vŕo mùa nắng. Cuối những bãi lúa chiêm mơn mởn kia không thấy một bóng mây mà tiếng sấm cứ ùng ục rền đi. Nhưng không phải tiếng sấm mưa rào. Đây là những cơn sấm mới, sấm khan. Sấm dậy cho những măng trúc măng luồng, măng nứa nghe tiếng, tẽ đất mọc lęn. Trong các xóm, những cây bưởi, cây chanh, như mọi năm, hoa trắng, hoa tím ngẩn ngơ chúm chím cạnh những cây na, hoa vŕ lá cùng xanh rờn lẫn vào nhau. Từng đàn bạc má, chim chích bay vào trong cây, cánh hoa rơi như bướm bay. Đêm đến, hươu về đầu nhŕ ăn quả trám non rụng. Sáng ngŕy ra, từ quanh làng đến cửa rừng, những tay tre, tay trúc xanh ngắt trổ lủa tủa đan lęn trời. Lại đến můa các phường săn. Tiếng tů và gióng giả ngoài bến. Nhưng không phải tù và phường săn gọi người. Đấy lŕ tù và báo hiệu mảng chở đồng đă về tới. Mùa cày cấy xong, đâu cũng tấp nấp vào rừng ngả gỗ làm máng nỏ, lấy hóp về vót tên -đã chặt hóp ngâm bùn từ mùa rét năm trước. Hầu như thành nghề, các vùng trên ngược thạo đi rừng đẽo máng nỏ, cánh nỏ, vặn thừng da trâu dây nỏ. Các lŕng ở Vũ Ninh, Mi Linh cho vào đến Hàm Hoan đều đŕo lò đúc mũi tên đồng, rèn giáo, đinh ba. Các ông Đô Lỗ, Đô Nồi, các ông họ Phạm, họ Đinh, các quan lạc lại cấp tốc đi các nơi truyền bảo mọi cung cách, kích thước làm nỏ, đúc đồng. Tiếng đồn năm ấy vua chủ đi rót lň đồng các lŕng dọc sông Thiếp ra sông Lú. Mặt nước chỗ nào cũng ve vé thuyền mảng.
Những chiếc bè ghép cây vầu ngộ dày tới mười lớp chở đồng quặng từ các cõi ở vùng Tụ trên thượng nguồn sông con về. Mảng nặng mấp mé chỉ còn nửa ống. Người đẩy sào, chân chạy ngập lấp xấp trên nước. Các cụ xúng xính áo nâu da bò dày kệp, chít khăn chàm tai chó. Mảng vừa ghé bến, tiếng tù và liên hồi rúc. Đàn voi trong làng ra, quì chân, nằm đợi bęn mép nước. Từng thỏi xù xì xanh xám đựng vào thùng vào sọt đầy có ngọn rồi xếp từng lượt lên lưng voi. Voi đưa đồng vŕo đổ xuống trước cửa, xong lại thủng thỉnh trở ra. Các bến sông rộn rịch suốt ngŕy. Nhưng mà phường săn trong làng vẫn nhớ mùa. Tiếng cồng, tiếng tù và, tiếng chó sủa nhộn nhạo trong rừng. Chiều đến, đồng đă được lấy lęn, các mảng dềnh cao lênh đênh ngoài bến, cũng là lúc bọn phường săn trở về. Cả làng càng bận bịu. Cũng khác mọi khi, trẻ bỏ chơi cắm cành móc diều bẫy cuốc. Đám trẻ trong rừng ra, khiêng con nai to như đàn kiến tha cái mồi kềnh càng. Các xóm vui suốt đêm. Từ chập tối, lửa thui nai đã rừng rực. Khi trăng lên, nghe râm ran tiếng hò hát chèo thuyền trên cạn dưới nước, tiếng ngọn roi đấu nhau giữ miếng chan chát, tiếng chân giậm, người ngã huỵch giữa gióng vật như cây chuối đổ và những trận cười rộ lên. Các cô giã gạo lóng đôi hát đối đă bỏ cối bước ra cất tiếng hát chuyển giọng chèo thuyền bắt lời với các chàng trai mới đến.
Bái hồ là huậy Huầy dô huầy dô Trong vườn hoa mận hoa mơ Cùng hoa chiêng chiếng ớ hơ tốt lành Trong vườn hoa bưởi hoa chanh Cùng hoa thiên lý quấn quanh cổ nàng ớ hơ...
ở đâu, người giŕ cũng chăm chú mọi việc tỉ mỉ. Thui con nai cho khéo, da vừa chín giňn mà không nứt lại phải đến các cụ. Đŕo lò rồi đắp nền, cũng không qua được tay các cụ. Những đống đất thó trắng đă được nhŕo lại, thấu lại thành tảng mịn như mỡ gấu, lấy ra từng cục như nắm tay, miết thật thục, thật đanh. Từ trong hố đất dần dần đắp lęn thành vành lò tròn như miệng giếng thơi, cao một đầu một với. Lň đúc chięng, đúc trống cňn cao hơn, phải đẽo tre lŕm thang mới leo được lęn nóc. Rồi suốt cả tháng, mọi người mải đắp vỉ khuôn mũi tęn, ấn những đường đổ đồng chi chít như vết mỏ khoét, vết chân chim. Đôi khuôn ập một, phơi hŕng loạt ngoài bãi, cùng ống rót, quả dọi, gáo múc cốt -tất cả đều đất luyện. Đồng hun đến được nước, chỉ có đất thó mới chịu được lửa. Mŕ cũng chỉ cái đất cửa sông Thiếp ra sông Cái mới thật chịu đựng nổi sức lửa nung nấu dŕi ngày như thế. Trời bấy giờ còn mát. Buổi chiều chợt thoảng cơn mưa rào nhẹ.
Những trận mưa mới, như mưa thử, mưa qua, mưa có chân đi. Tiếng rŕo rào ngoài bến vào trên nóc nhà sang búi cây trám, bụi tre rồi xuống rừng, lên đến núi bên kia thì tạnh. Cũng có hôm còn hơi lạnh trở lại. Cả ngày, đám người quanh lò cứ cởi trần trùng trục. Từ sáng sớm, tiếng chiêng chòm đã lên hiệu nhóm lò. Mọi lò trong làng được châm một lượt theo hiệu tù và. Những cụ cao tuổi, cởi trần, thắt lưng chàm bỏ giọt, vung đuốc như múa, chạy từ ngoài bến vào châm lửa. Những đám cỏ tế lŕm bùi nhùi bén gỗ đã bắt lửa. Các nóc bốc khói mù mịt rồi xanh thẫm. Lửa lên đẹp. Thế là cả ngày, phường săn lại vào rừng. Rồi cuộc chè chén la đà quanh các lò đến khuya. Những lò đúc đượm lửa suốt ngŕy đęm. Ba hôm, khói dứt lên mái, từ đây tới hôm được nước, toŕn đun một giống gỗ nghiến mọc khe đá cho chắc lửa -từng đŕn voi vào các chân núi kéo về nguyên cả cây nghiến đã được ngả từ năm trước. Cứ trông mŕu khói phân vân trên nóc lò mỗi hôm thay đổi, biết lửa tốt, lửa kém mà ngày ngày mổ nai, chọc tiết gấu, đánh cồng, vui hát. Lửa lęn đỏ sẫm. Rồi đỏ tím. Đến hôm ngọn khói trắng nhạt, đồng đă chảy, còn sót lại bao nhiêu cuội đá dính quặng đương chěm, chỉ có nước đồng nổi váng tręn mặt. Lại chất thêm củi, đẩy cả cây gỗ thúc vào. Nước đồng đă già. Phải giữ độ lửa cho nước đồng lúc nŕo cũng sánh nhũn ra như lụa vò. Khói chuyển da cam. Nước đồng đă được luyện đẹp. Suốt ngŕy, ném trầm cháy sực nức quanh lò. Rồi màu đỏ vàng khé sang vàng nhạt. Rồi mặt lò ngùn ngụt khói trắng bông. Mặt lò trắng bông! Đồng đă được nước. Lň đă đượm lửa một tuần trăng đều đều. Mặt lň khói trắng bông rồi. Trong làng im phăng phắc. Theo cái hèm vẫn kiêng xưa nay, các phường săn không mó đến lưới. Trẻ con không ra cửa rừng bẫy cuốc. Không đâu đụng đũa, chơi nhởn. Đâu cũng đợi đến lúc hệ trọng thiêng liêng rót đồng. Vua Thục trên Kẻ Chủ về. Trước tiên ra lò đúc đặt giữa nhŕ Nồi hầu ngoài Chiêm Trạch. Đoàn thuyền vua chủ tới bến đầu làng sớm tinh mơ.
Tiếng cồng hai bên sông nổi nhịp từ lúc thuyền còn đương ngoài dòng. Cho đến khi trời sáng, trông ra dọc sông thấy chi chít đoŕn thuyền ngự đă vào quá ngoài bến mà vẫn chưa trông thấy chiếc sau cùng. Những chiếc độc mộc năm mươi tay chčo, những chiếc thuyền hoa kiệu nhất, siêu nhất ngổn ngang rực rỡ mặt nước. Rồi tiếng phách nhịp cho thuyền đậu, tiếng mő canh lướt lên lướt xuống. Người đổ ra xem thuyền vua nghìn nghịt hai bên sông.
Bạn chèo gióng giả Chèo chơi bạn nàng Huầy dô huầy dô Bái hồ là huậy Là hỡi lên dô Bái hồ là huậy Là huầy dô huậy Chèo chơi một mái cò bay Hỡi bạn nàng hỡi dang tay cho đều
Tưởng như suốt quãng sông Lú ra đến sông Cái, nơi nào cũng nổi tiếng reo, tiếng "dô huậy" hòa trong tiếng cồng nhịp nhịp. Vua Thục cởi dải hai vạt áo chồi đỏ, hàm râu quai nón quết tua tủa trước ngực trần. Các lão ông ra đón vua tận ngoài bến. Nồi hầu đă đi việc quân, về xem các lň đúc dưới Ninh Hải. Bŕ Đô cůng các lão bà ra đứng đón vua chủ. Đống vŕ Vực cao lớn giữa đám trai lŕng. Mỗi chú mặc tấm áo giáp da trâu nhuộm cậy, đỏ tía mŕu mận. Về làng, các chú cũng như trai làng. Trên mặt lò, khói nhẹ nhẹ trắng, vân vân. Vua chủ nhìn lò đồng hồi lâu, rồi hỏi:
-Mẻ này thế nào?
-Đội ơn vua chủ, từ lúc vŕo lò, mưa thuận gió hòa. Vua Thục cười:
-Làm sao giữ được tiếng tên đồng Chiêm Trạch như các lò mọi năm. Một lão ông nói:
-Trong nghề đồng, khó nhất cái đổ khuôn tang, khuôn chân vŕ vào nước cuối rồi mà lúc làm nguội, soi lên vẫn bóng như gương, chục chiếc như một. Nghề đồng đất chúng tôi xưa nay vẫn vững, sánh tŕy tay nghề phường đúc Hŕm Hoan. Xin vua chủ yên tâm. Vua Thục cười ha hả:
-Bởi thế mà tôi về lò đúc nhà Nồi hầu rót mẻ đồng này để cầu cho tám cõi được như Chiêm Trạch. Vua Thục cầm chiếc gáo đất, múc vào lò. Nước đồng sóng sánh vàng rực đổ ra ống sáo các khuôn đă đặt sắp hŕng ngay ngắn trên giàn sạp đất trước mặt.
Rồi ném áo xuống phản, cũng để trần lưng như các cụ, vua Thục đổ khuôn với các cụ. Suốt buổi sáng, rót hai mươi ống, được tręn trăm khuôn. Ngŕy đổ khuôn đầu tięn, cả vùng mới linh đình thành đám hội. Các lão bà phóm phém nhai trầu đứng thành đám ngoài đầu ngõ, hát nhịp cho các cô gái múa bài bông. Đến tận nửa đęm, mấy chục thuyền vua ngược dòng ra sông Thiếp rời bến từ lâu mà hai bên bờ, những đình liệu, đuốc đóm vẫn rực trời. Tiếng reo vang măi lên ngược. Các lò rót đồng xong. Mấy hôm sau, ngâm nước phá khuôn. Lại bắt đầu việc lŕm nguội. Từng đống mũi đồng cao như gň. Người già vẫn đóng vai phường cả, đốc đám trai gái lŕng ngồi chọn nhặt, cầm đá mŕi chuốt từng chiếc. Những mũi tên nổi bóng nhọn hoắt. Đám trẻ con lấy mảnh tre cật khía vào lòng mũi sạch hết đất giắt. Rồi lá chuối khô lau nhẵn trong ngoài lưu ly lên như nước. Sau cùng, các lão bà đếm, bó lại từng chục, mỗi chục chầu hai chiếc thành mười hai. Bó tên buộc dây mây chắc như đinh đóng cối. Tải lęn kho Kẻ Chủ, quăng quả thế nŕo cũng không xê xích được. Từng đŕn voi thồ mũi đồng lęn Kẻ Chủ. Trên bành voi, quản tượng ngồi trang nghiêm giữa những thúng mủng chồng chất các bó mũi. Ra đến ngoài đường, gặp khắp nơi đương như vŕo hội đem tęn mũi, tên đũa hóp đá, cánh nỏ, thân nỏ về các kho. Đoŕn thuyền, đŕn voi ngựa, xe quệt trâu kéo. Đâu cũng nô nức. Mŕ trời đất khéo thu xếp. Mọi nơi vừa dẹp các lň đúc, můa nắng oi nồng thật sự mới đến. Những cơn mưa nặng nề tới trước. Những trận mưa rŕo liên miên sầm sập, trắng xóa phương trời. Nghe phía nào cũng miên man tiếng mưa. Cả ngày đến chập tối, hết hôm sang mai, vòm trời rưng rưng đổ cơn nước mịt mùng. Dòng sông dềnh lên, ngập vào các bãi, các chân tre, những bụi chuối. Những chân lúa chiêm muộn đã ngập cả. Nước còn ngập ròng rã. Lại đến tao phải mò các vực, các chuôm ở cửa rừng bứt lúa ma về ăn. Một đŕn voi lướt thướt chui trong mưa vào xóm. ạng Đô Nồi và ông Đô Lỗ cùng về Chiêm Trạch. Có đến cả chục thớt voi lừng lững vào. Những toán quân quan chạy trước chạy sau rầm rập giữa làn mưa mù mịt. Mưa to thế, mà cả làng đã biết quan quân ta về. Người khắp xóm đội mưa kéo đến. Mấy cụ giŕ bước ra, túm lại hỏi:
-Các đức ông vẫn cňn đi giục các cői đem đồ đúc, đồ mộc về kho ŕ?
-Không phải. Các nơi xong tất rồi. Năm nay, cői nào cũng xong sớm, vào kho cả, đâu vào đấy.
-Thế hai ông đi đâu mŕ lặn lội nhường vậy? Cao Lỗ nói:
-Lên ngược nghe binh tình.
-Binh tình thế nào?
-ý chừng quân Triệu lại nhăm nhe đấy.
-ạ hay! Mọi người lặng yên. Người già không bao giờ quên họa quân Tần ngày trước. Và cả đứa trẻ ẵm ngửa cũng phải trải gian nan quân Triệu năm trước rồi. Những toán người tay cầm giáo, vai đeo cung kéo bộ qua, đi măi vẫn thấy giáo mác, cánh cung kéo bần bật. Suốt ngày, đâu cũng nghe rùng rợn tiếng đâm chém, tiếng thét hỏi:
-Tống được bao nhięu lương?
-Người trốn hết rồi, không lấy được hộc nŕo.
-Đứng lại.
-Chém đầu thằng kia lŕm răn.
-Đứa nŕo đi tống lương mŕ chưa đem về nộp quan đủ gạo, thịt, rượu, phải chết như thế. Khói đốt nhŕ bốc ngất trời.
Tiếng người gào khóc trong lửa. Các nhà chài lưới dưới sông, các làng, các bãi, lại dắt díu nhau chạy vào núi. Những đŕn trâu bồn lẫn với người đội người vác. Trốn vŕo rừng mà vẫn rùng mình nghe tiếng quát, tiếng rú đinh tai. Ai cũng đương nhớ lại. Nhưng ai cũng lại bừng bừng nhớ cảnh quân Triệu năm mới rồi, quân Triệu đă tan tác, chạy chết. Một cụ già vuốt râu, nói pha trò trống không:
-ừ mà cũng phải, ta tích trữ binh lương đầy các kho, nhiều quá thì cũng nên đem chia cho bọn úy Đŕ với. Rồi cười ha hả. Mọi người đương đăm chięu, bỗng cùng cười ran trong tiếng mưa ngoài trời đổ rào rào. Đám trẻ ríu rít đeo thời, đeo giỏ chạy đi nhặt cá rạch lęn bãi. Thoáng mắt, cả lũ đã khuất sau làn nước trời xối xả. ít hôm, chỉ còn gặt được khoảng chiêm ven bãi khỏi úng. Những nơi ngập nước, hạt thóc mọc mậm, rụng xuống, thành những chân rộc lúa ma. Lại vào giữa những ngày nắng to. Cả dãy tường thành vòng xoáy ốc hiển hiện lên trên bóng nước. Những cánh hoa súng nở trắng. Những chiếc lá trang tròn xanh lát mặt nước. Con cá quẫy đuôi đớp bóng lá. Chiếc hoa súng lung lay. Tręn cao, con bói cá ngỡ động mồi, thả cánh lŕ xuống. Sát mặt nước mới nhận được ra đấy chỉ lŕ chiếc hoa súng. Bói cá lại bay hất lên. Đàn rùa bơi thong thả. Bàn chân móng rùa toẽ ra như chiếc bê chèo đung đưa trong dải nước vŕng trời chiều. Bói cá lại tưởng con mồi lên ăn nổi, lao xuống. Lướt ngang mặt nước, bói cá choáng mắt vì bóng hoa gạo đỏ rực rỡ. Suýt con bói cá chúi vào miệng rùa đương hóng mồi. Trên bốn mặt thành, ở mỗi bậc đá có những cánh nỏ chĩa vào khoảng không. Những toán quân túc trực, mắt đăm đăm nhěn ra. Chốc, một ông lạc tướng bước nhanh vào đưa tin mới từ đường ngược về. Quanh thŕnh cấm, lại từng toán hàng trăm lực sĩ lục tục nhô lên. Mỗi người đóng khố điều, lưng để trần, đứng nghięm hai bên, đợi lượt vào vít cánh nỏ. Những toán khác đương lặng lẽ kéo vào. Đống trầm cao như cây rơm bốc khói thơm ngào ngạt. Vua Thục và Cao Lỗ đương đứng nhěn bàn cờ. Bàn cờ đặt trên tảng đá, bậc dưới cùng, ngay chân bệ nỏ thần. Chiếc chiêng đại dựa bên Cao Lỗ, như một vành khiên úp. Những nét mặt trầm ngâm. Những con mắt chăm chú nhìn quân cờ. Nhưng không phải thế. Dường như bàn cờ trước mặt chỉ để làm cái cớ gợi cho quân tướng những ý nghĩ đương bay vút sang phía trước mặt, bên kia sông. Cao Lỗ đứng dậy, xách chiêng lên. Cao Lỗ ngắm nghía lên vòm trời, rồi kính cẩn nói:
-Quân Triệu đă đến gần rồi.
-Chưa có người về báo mà ông biết được sao? Cao Lỗ chỉ tay lên những đàn quạ đương lả tả bay xuống:
-Vì quân Triệu trảy đông quá, lại động rừng tręn ngàn, chim mới vỡ tổ về nhiều thế kia. Trời vần vụ mây. Từng đàn cò trắng thấp thoáng ngang trên mặt thành. Cao Lỗ lại nói:
-Cò bay ra nhiều đến thế, quân Triệu đương men các bờ tre ven sông xuống quanh đây rồi. Vua Thục nói:
-ạng định trốn tôi ván cờ nŕy à? Cao Lỗ nói:
-Được nước cờ cao cũng lợi cho óc nghĩ về việc quân. Nhưng xin vua chủ cho đánh giặc xong đă. Vua Thục nói:
-Ta đă hẹn ông Đô Nồi đem các tướng Đống, tướng Vực đi xem xét binh těnh quân Triệu. Có tin ấy về mới là khẩn cấp. Các tướng trên ngược chưa về, bàn cờ kia cũng vẫn giúp cho ta minh mẫn nước nghĩ trận này mà. Cao Lỗ nói:
-Đứng đây cũng nhěn rõ bên kia sông rồi. Chẳng nên cố đợi tin Nồi hầu. ở trận mạc, xảy bất trắc là lẽ thường. Bụi đường đă mờ mịt khắp chân trời kia. Xin vua chủ cho tôi lên mặt thành. Vua Thục hỏi Cao Lỗ:
-Liệu lần này uý Đà có được bao nhiêu quân?
-Nó dốc hết người ra, quyết sống mái với ta một phen nữa. Vua Thục ôm hai tay lên hàm râu:
-Thế thì nỏ thần ta chỉ phải mất công khó nhọc có lần này nữa thôi. Đã có hai ông lạc tướng trên ụ canh, ông chưa phải đem lệnh lên, cứ thong thả. Hai hàng quan lạc tướng cầm chiêng, khoác khiên, chống giáo đứng im hai bęn. Mặt thành phẳng lặng. Trên ụ canh, sững bóng quan lạc tướng, mặt đăm đăm nhěn chân trời. Phút chốc, bên kia sông đã đen kịt. Như cơn bão nước ập tới. Cả một vùng sông và hào nước quanh thành, quân Triệu đương tíu tít thả thuyền, thả mảng luồng xuống nước. Bóng tỏa sẫm cả dòng sông. Cao Lỗ quay phắt ra:
-Giặc đến trước mặt ta rồi kěa. Vua Thục đặt một chân lęn bệ đá, nhěn xuống.
-ừ, bây giờ thì vừa hay. Rồi bảo Cao Lỗ:
-ạng lệnh cho các cánh nỏ.
Cao Lỗ bước ra mặt thành, vươn thẳng tay như treo chiêng lên, nện một dùi. Tiếng chiêng bốn phía đổ hồi theo. Vua Thục phất tay áo. Hai vế bốn mươi lực sĩ nhảy vào. Tám mươi cánh tay vươn lên. Cánh nỏ từ từ cong xuống. Suốt mặt thành, từng đợt tên nỏ bắn ra cờn lên, loang loáng, chằng chịt những làn sóng xám, sóng xanh, sóng vàng, chói lói ngang sông. Vua Thục đến cạnh bệ đá, phất tay lięn tiếp. Những mũi tên thần bay. Cánh nỏ vít xuống phăm phắp. Người kiệt sức ngã lăn. Những cánh tay, những đầu gối căng thẳng đến răo gân ra, không co duỗi được nữa. Người lăn lóc như những chiếc trống. Toán lực sĩ khác nhảy vŕo. Hiệu bắn càng gấp. Cánh nỏ chúc xuống, nhanh như chày giã gạo. Buông tay ra, lại không người nào dậy được. Toán lực sĩ khác lại ùa vào, giẫm lên nhau, gò dây nỏ vào máng. Tới tấp, hỗn độn người chạy, người ngã, người hô hét, người liệt gân lăn xuống. Chiến trận đằng đằng sát phạt ngay giữa mặt thŕnh. Từng làn nỏ khắp mặt thành bắn ra cùng với nỏ thần liền một dải kín như mây đùn từ mặt nước lên. Tiếng nỏ xé gió như sét đánh liên hồi. Một lúc. Tan khói. Những bãi cát ven sông lại lặng lẽ như mọi ngày. Cả một vệt dày đặc quân Triệu lúc nãy đã biến đâu mất. Chỉ thấy những hoa gạo rụng tới tấp, đỏ đọc như những vết máu chảy xuống rňng ròng. Vua Thục chỉ tay:
-Các ông trông kìa. Bên kia bờ nước, nhìn kỹ thấy mờ mờ ngổn ngang xác người, những cánh cung, những xe ngựa chồng đống. Nhưng cứ im như gò đống bãi tha ma. Từng đàn chim công lượn tròn trên dòng nước rồi lúng liếng, đỏng đảnh theo đuôi nhau đổ xuống bờ thŕnh. Cả trăm, cả nghěn con công đậu. Đuôi công mở ra, lung linh múa. Trňn xoe, rực rỡ biếc xanh, trắng bạch, vàng rực, đỏ hồng. Đuôi công xôn xao chụm lại, xoč ra, quay tròn, lộng lẫy ánh xuống mặt nước. Bên tường thành công múa hóa ra một cánh đồng hoa trà đỏ, hoa mơ trắng, hoa cà tím, vô vàn các thứ hoa kỳ lạ đương rực rỡ nở. Vua Thục cười ngất:
-Các ông trông! Trời sai đŕn công về múa mừng ta thắng trận. Bốn mặt thành, tiếng quân reo ầm vang. Vua Thục vỗ vai Cao Lỗ, lại nói:
-Nỏ thần ta mất công lần này nữa thôi. Quả như lời tôi mà. Cao Lỗ đứng lặng, nhěn sang sông, rồi nói:
-Phải cho người đi thám xem úy Đŕ sống hay chết. Vua Thục dõng dạc:
-Ta sẽ cho người đi ngay. Bây giờ ông hẵng lấy ngựa ra các cői báo tin thắng trận. Nội nhật trong ba ngày, kéo về đủ trăm con trâu béo, gạo nếp, rượu. Cao Lỗ nói:
-Đương cňn giữa độ cŕy! Vua Thục hỏi lại:
-ạng bảo thế nào? Cao Lỗ đáp:
-Trâu các cõi hiện đương làm mùa ngoài bãi, chưa đến lệ lấy trâu thịt.
-Nhưng ta phải mở hội khao quân tức thì. Cao Lỗ cúi đầu giây lâu rồi nói:
-Hằng năm, vua chủ có lệ lấy trâu thịt nhưng cũng chưa khi nào hạn bắt trâu đương làm giữa bãi. Vả chăng, mấy lâu nay, bốn cõi thật vất vả. Nhờ phúc to vua chủ được thần Rùa cho lẫy nỏ, mới đuổi được giặc, thiết nghĩ chẳng nęn bắt trâu lúc này... Vua Thục quắc mắt:
-ạng không biết vui được như ta đương vui rồi. Trông trước mắt kia, từ đây suốt đến Phięn Ngung chưa chắc đă còn thấy đủ bóng nửa con ngựa bố con uý Đŕ. Thế thì phải hội quân tiệc to đến nhường nào mới bõ công khó nhọc trận này.
Cao Lỗ lặng lẽ như đứng một měnh. Tự dưng nhớ lại ngày ở Vũ Ninh về, bỏ cày dưới bãi theo vua. Trải ngoài mười năm giặc Tần phạm khắp cõi. Long đong không lúc nào biết đâu nơi ăn chốn ở. Vua tôi cůng gối đất, có khi phải vặt cỏ ăn, dầu dăi, khó nhọc, chẳng lời nào nói cho thấu hết nỗi. Lúc bấy giờ chỉ mong sao thiên hạ được có ngày vỗ yên, tát cá, cày bãi, dệt vải, đủ cái ăn cái mặc. Vua tôi cũng như mọi nhŕ, sớm tối được miếng ăn miếng uống. Nghĩ thế đă là nên hội vui rồi. Cao Lỗ nói:
-Vua chủ có nhớ những ngày giặc Tần...
-Việc khi mở nước ấy bao giờ quên được!
-Còn nhớ tôi với chú Đống đem hai con trâu bắt được đi lŕm kế giết Đồ Thư. Mưu diệt tướng giặc to nhất mŕ phải mất hai con trâu, vua tôi nghĩ cùng xót ruột. Đến khi giết được Đồ Thư mŕ còn dắt về được một trâu, ai nấy đều hớn hở. Vua Thục cười:
-Ta vẫn nhớ chuyện ấy như mới hôm qua. Nhưng mà bây giờ khác xa ngày ấy. Cao Lỗ vẫn khăng khăng:
-Không, không... Vua Thục nghiêm mặt, quát:
-Lộng hành lắm, lộng hành lắm rồi. Đi đi cho khuất mắt ta. Cao Lỗ nhợt mặt, chắp tay, lůi ra. Vua Thục nhấc chiêng, cầm chiếc sừng trâu đong rượu gő ba tiếng. Một lũ các quan lạc tướng, tay xách giáo, lưng đeo nỏ, lục tục bước tới. Vua Thục nói:
-Lệnh cho các cõi nội nhật ba hôm đem về trâu một trăm con... Quan lạc tướng lạnh lůng khích một câu:
-Vua chủ mở hội khao quân, ai dám gàn quải! Vua Thục vẫn chưa qua cơn giận, hét:
-ạng nói ai gàn quải? Quan lạc tướng sợ quá, bỗng run rẩy:
-Vua chủ khao quân... Vua Thục gầm lên:
-Trăm con trâu... trăm con trâu...
-Dạ... dạ... Quan lạc tướng nói:
-Xin cho các cõi cùng được mở hội. Vua Thục lại cười khà khà:
-Phải, phải, các cõi cùng mở hội khao quân. Các quan đã lui xuống. Quản tượng đưa voi vào đợi rước vua chủ dưới chân thành. Vua Thục còn dừng lại trước bậc đá. Như nói một mình:
-Nỏ thần! Nỏ thần! Nhờ nỏ thần, ta đă bắn tan úy Đŕ, từ nay vững được tám cői. Của báu nỏ thần trên thế gian chỉ có một mình trong tay ta, chỉ một mình ta có. Cửa thành cấm này không ai được dòm ngó đến. Từ nay cấm ngặt. Cả Cao Lỗ cũng không được đặt chân tới.
Huỳnh Hoàng Thám @ 14:38 14/07/2011
Số lượt xem: 203
- Chuyện nỏ thần (Chương 3) (14/07/11)
- Chuyện nỏ thần (Chương 2) (14/07/11)
- Chuyện nỏ thần (Chương 1) (14/07/11)
- An Dương Vương (06/07/11)
Các ý kiến mới nhất