Đồng hồ

Lịch

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Nội dung chính

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Huỳnh Hoàng Thám)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Từ điển


    Tra theo từ điển:



    Học tiếng Anh

    Đổi tiền

    Danh ngôn song ngữ

    Truyện cười

    Tin tức

    Chào mừng quý vị đến với website của Huỳnh Hoàng Thám!

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > DANH NHÂN VIỆT NAM > Danh nhân Việt Nam >

    Chuyện nỏ thần (Chương 8 & 9)

    Chương VIII

    Từ cổng thành vào, đông nghịt người đi xem vật phẩm lễ cống bęn Phiên Ngung đã sang tới. Nhịp bước người đi như múa, hòa tiếng reo mừng trong tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng trống. Vua Thục đã phái quân quan lên đón đồ cống cách thŕnh một ngày đường, như mọi năm. Một toán quân hoa cờ, dŕn ngang, đi trước. Các cô tố nữ múa bŕi bông, múa quạt, đánh cồng dẹp đường. Rồi đến những người hề, mặt bôi sáp trắng, không biết đŕn bà hay đàn ông mặc giả đàn bà, váy loe quét đất, áo ngắn hở nửa lưng, vạt thắt quả găng. Mỗi cặp bưng đôi chiếc trống cơm dŕi như quả mướp, dây da trâu đeo lęn cổ. Hai tay đu đưa bập bồng vỗ mặt trống, tang trống. Trẻ nhỏ đuổi theo đám giả trai giả gái vỗ trống cơm đông nhất. Tiếng sáo réo rắt. Đoŕn quân Phiên Ngung nghiêm nghị áo xám, ống tay rộng, chân đi giày cỏ, mũ lá. Các quan áp tải lễ cống đội mũ da bò nhọn chỏm, cưỡi ngựa, mắt nhìn thẳng. Những con la bước lênh khênh cao hơn hẳn một đầu người. Hàng trăm con la, đầu cŕi ngù đỏ toẽ xuống nửa bờm, khấu đuôi tết lụa bông hoa hięn. Trên lưng, mỗi con la đội hai chiếc rương lớn sơn then, phủ lụa thiên thanh. Con la đi đầu đă qua cổng thành được một lúc lâu, mà đoàn la đi sau vẫn lũ lượt vào. Người hai bên đường đứng lại, chỉ trỏ, trầm trồ.

    -Năm nay vua Triệu tiến cống vua chủ ta hậu hĩ quá.

    -Trầm! Trầm hương! Hòm rương đóng kỹ thế kia mà mùi trầm vẫn sực nức. Nam Hải mà có thứ trầm thơm thế à?

    -Nghe nói có cả lễ ăn hỏi nęn mới đưa nhiều của cải đến thế chứ.

    -Thế nào? Thế nào? Ai bảo sao? Có người nhảy lên, reo nói, đếm vanh vách như chính tay mình đã được xếp các thứ phẩm vật quý báu lên trên lưng la.

    -Kia là lụa, lụa bạch Hợp Phổ đấy. Lại nhung tơ Thương Ngô. Còn bình bạc, gương bạc, quạt bạc, đồ chạm quý đất Uất Lâm. Các rương kia đựng hương liệu. Ngoŕi đảo xa ở Chu Nhai hay tận Đŕm Nhĩ mới có giống hương tuyến hun áo. Người mặc vào, váy áo thơm nức cả tháng. Không ai biết thế nào. Chỉ biết mừng giỡn lên. Bao nhiêu đồ cống quý giá qua trước mặt. Có người gặng lại:

    -Ai nói thế nào?

    -Con vua Triệu sắp được lŕm rể vua chủ ta, còn thế nào nữa!

    -Cớ sao chư ông biết?

    -Người ở phường, ở chợ đồn đă lâu rồi. Anh ả này rõ nợ đời, chẳng biết gì.

    -Tớ cứ ro ró xó bãi, chẳng biết gì thật. Thế thì thế nào?

    -Lại còn thế nào! Vua Triệu cho con trai sang hầu vua chủ đã mấy năm nay rồi, bác biết không?

    -Chuyện đầu lưỡi cả, chứ bụng dạ nó ai biết được sâu nông thế nŕo.

    -Việc đời cũng hay. Đương lŕ thằng giặc, bỗng thành ông quan lạc.

    -› lạ, lão úy Đà ấy mà trúng nỏ quân ta năm trước thì chết đỏng tử rồi. Thế mà bây giờ lại sắp được ngồi uống rượu đôi bęn dâu gia với vua chủ?

    -Cơ ngơi vần xoay đến vậy mới tŕi!

    -Đếm được ngoŕi trăm con la tải đồ cống. Sang trọng quá. Khác mọi năm quá. Đích thị lŕ chạm ngõ, ăn hỏi gì đây nên mới to tát nhường này.

    -Thế cưới xin ai?

    -ạng này tai điếc lòi. Từ nãy, đầu gối nghe hay tai nghe? Con trai úy Đŕ lấy con gái vua chủ.

    -Đấy, đấy, cái ông quan cưỡi ngựa đi sau cůng đốc đoŕn la cống là rể vua chủ đấy.

    -ờ ờ, ông quan ấy... ạng quan ấy à... Người này mình đã trông thấy rồi... vẫn trông thấy... Cứ ngỡ quan bên ta. Cũng áo mũ quan ta, hóa ra là nó.

    -Chán thật.

    -Đương vui lại chán thế nào!

    -Quân Triệu cũng được đi đường cái vŕo phường, vào thành như mình. Lại hơn mình. Vào cả nhà vua chủ. Chư ông đã mấy đời nhà ở phường ở chợ. Hỏi ai từ khi xây thành đã được bước chân vào xem cung vua lần nào?

    -Thôi, việc vua quan thiên hạ sự, biết thế nào mà bàn. Trên thành cao, vua Thục và các quan ra đứng ngắm đồ cống quân Triệu đang nườm nượp vŕo. Vua Thục đứng im không nói. Nhưng nét nhěn chăm chú. Dưới thŕnh, bên giếng nước chỗ khác, vẫn còn những đám dai dẳng cãi nhau nhấm nhẳng.

    -Không phải.

    -Nó thua vua chủ thì phải dâng đồ cống. Bao giờ quân thua chẳng phải chịu đớn thế.

    -Nhưng mà con nó lại vào ở rể.

    -Vua chủ ta nhân nghĩa.

    -Ngoài thành lại có người nói khác chư ông.

    -Còn nói thế nào?

    -Đừng ai tha lời đi chỗ khác, tôi mới dám nói.

    -Tao là quan lạc hầu xử án đây, cho mày nói.

    -Người ngoài cõi nói rằng giặc thua trận rồi giặc lại vào được thành, là điểm gở.

    -Vua chủ ta lượng rộng như bể, chư ông ạ.

    -Nhưng mà phải tùy mặt chứ. Đằng này cho trộm cướp vào nhà.

    -Thôi, thôi... Trong cửa cao trên thành, vua Thục vẫn đứng yên nhìn theo đoàn la lững thững vào qua các phường. Xung quanh, quân tướng cũng đứng nghiêm, lặng lẽ. Rồi vua Thục trỏ tay:

    -ạng Cao Lỗ, ông nghĩ xem đă thấy ra việc ta tính một được mười, biến hóa đến thế đă là hay chưa. Ta không cất quân đến Phiên Ngung mà quân kia phải nộp của nộp người làm tin, khác nào ta nắm gáy nó. ạng đã thấy thế là phải chưa? Cao Lỗ nói:

    -Tôi thật vẫn nghi ngại.

    -ạng lúc nào cũng là người cả lo. ạng còn ngại thế nào? Cao Lỗ nói thống thiết:

    -Bây giờ hai họ một nhà, thiên hạ mừng được yên vui. Nhưng thật tâm tôi vẫn áy náy. Hòa hiếu thì quân quan người ra vào nhà ta như nhà người, hang hốc nào cũng thông tỏ. Ngộ như mai kia cơn cớ gì xảy đến, chẳng hóa ra bấy lâu ta nuôi chó ngao trong nhà mà ta không hay. Lòng người lá phải lá trái lường sao hết được. Lúc ấy, đủ mặt các tướng theo vua chủ từ ngŕy trước, đứng quanh. ạng Đô Nồi, tướng Cao, tướng Đống, tướng Vực. Các ông Đinh, ông Phạm. Mọi người đăm đăm, nghięm mặt. Nhưng không ai dám nói tiếp lời Cao Lỗ. Cao Lỗ dứt tiếng, giọng sang sảng vào khoảng không. Vua chủ hằm hằm đứng dậy, quắc mắt:

    -ạng nói thế, là thế nào? Cao Lỗ vẫn dõng dạc:

    -Tôi nghĩ, ta đă có thiên hạ trong tay, ta lại phải biết cái lo ngoài nghìn dặm. Mười tám đường Hùng trước kia đã phải lấy cái lo toan ấy làm giường mối, không đời nào được sao nhãng nghỉ ngơi sự đối phó. Vua Thục nhíu đôi mŕy rậm, trong khi Cao Lỗ nói mỗi lúc một thiết tha:

    -Không đời nŕo sao nhãng việc đối phó. Cả đứa trẻ lęn ba cũng phải lớn phổng, biết đứng dậy đánh giặc. Xưa kia

    ... Kíp đến lúc quân nhŕ Œn tới chân Núi Trâu bộ Vũ Ninh. Đứa con trai ba tuổi duỗi chân đứng dậy, cao hơn mười trượng, ngứa mũi hắt hơi liền mấy tiếng, cầm chiếc gậy sắt, giơ lęn thét lớn:

    "Ta là tướng nhà trời đây". Rồi đội nón sắt, cưỡi ngựa sắt. Ngựa chồm lęn, hí dài một tiếng mà phi như bay. Nháy mắt đã tới trước vua Hùng. Cứ thế, giơ gậy sắt đi trước, quân quan theo sau. Giặc bỏ chạy, còn lại tên nào đầu cúi xuống hàng phục. Vua Œn chết tại trận. Mọi người xung quanh vẫn im. Vua Thục như lơ đãng nhìn ra ngoài vùng bờ tre rậm rạp trước mặt. Ai cũng run sợ, không biết vua chủ đương nghĩ thế nào. Cao Lỗ mắm môi, rồi ngước mắt:

    -Hào kiệt sáu cõi nước ta nghìn năm vẫn đinh ninh một tiếng đánh. Xin vua chủ nghĩ lại. Vua Thục thét to:

    -Kẻ kia như con cua trong thời. Ta đă nói thế.

    -Dẫu cho...

    Đô Nồi chen vŕo câu nửa chừng của Cao Lỗ:

    -Xin vua chủ... Vua Thục trầm lại, nói thong thả. Nhưng dằn từng tiếng:

    -Ta đă quyết thế. Con ếch úy Đŕ đă nằm trong giỏ của ta, ta thò tay bắt lúc nào cũng được. Các người quá lo cũng hóa ra cua cáy cả rồi. Cấm không ai được bŕn tán nữa mà hèn người đi! Im lặng rùng rợn. Cao Lỗ đứng yên, rồi quay lại, sụp xuống nắm tà áo vua Thục.

    -Bình sinh, tôi bụng nghĩ thế nào, nói thế.

    -ạng nghĩ quẩn rồi.

    -Từ thuở tôi bỏ cày dưới bãi ở Vũ Ninh về theo vua chủ, lòng dạ tôi thế nào, hà tất... Vua Thục ngắt lời:

    -Lúc nãy ông nói lòng người lá phải lá trái...

    -Vâng, lòng người lá phải lá trái khôn lường. Ngày trước, úy Đà đã nhân cơ hội nhà Tần sắp tiêu vong mà lấy Quế Lâm, Tượng Quận, việc nham hiểm này bốn phương đều tường, vẫn còn rành rành ra đấy. Vua Thục cười nhạt:

    -Không, không, sự thể cũng rõ như ban ngày mà sao bụng dạ ông cứ như vướng tóc. Đồ sính lễ của nó cũng là đồ tiến cống ta. úy Đŕ được ở nhŕ thì con phải sang đây thế mạng. Không động binh mŕ thu tất cả thiên hạ của nó. Bờ cõi ta đương như trải chiếu, mở cờ, ông lại chỉ bàn cuốn cờ gấp chiếu là làm sao! Bỗng vua Thục cười khà khà, tiếng to mà lạnh ngắt:

    -ừ, có khi ông nói tôi cũng cho là phải. Thì cứ nghĩ như úy Đà là quân phản trắc. Nhưng cái cánh cung gỗ dâu Phiên Ngung hỏi đối với sức thần ta thế nào. ạng hiểu rồi đấy chứ? Ha ha...

    -Tôi thật lo. Khéo không đại sự có cơ... Vua Thục giận lắm:

    -Lời nói xàm báng chẳng khác phạm tội đại nghịch. Ta thể tình mà tha cho lần này nữa. Thôi! Cao Lỗ cúi đầu, lẳng lặng lùi ra. Bên cửa tây, bọn các nàng hầu đương xô nhau ra đứng nhěn xa xa phía đường cái ngŕy hội, người ta túm tụm xem đồ cống ngổn ngang. Mỵ Châu ngồi hiên trong. Nhưng nghe rõ mồn một các cô nàng hầu đương rỉ tai với nhau. Từng lúc lại chau mày, cúi mặt, thở dài. Mỵ Châu thẫn thờ.

    -Nước Triệu đem dâng của nhiều thế kia, cũng lŕ khoe giàu có đấy.

    -Mày còn nhớ năm trước quân Triệu chạy chết, vua chủ mở cửa thành cho cả các phường ra đuổi giặc. Chúng mình cũng đòi đi. Giặc đến nhŕ, đŕn bà cũng đánh, nhớ không. Vậy mà, bây giờ nghênh ngang thế vầy. Nghĩ cũng nực cười.

    -Không nực cười bằng chúng mày lại ra xem!

    -Chẳng thèm! Bọn các cô nàng hầu buông rèm, quay vào, đứng quanh Mỵ Châu vẫn đương ngồi ủ rũ. Mỵ Châu gượng cười:

    -Tàm ơi! Kể chuyện vui nào, kể đi. Tàm nói:

    -Người ta bảo đời trước có nhiều chuyện vui hơn bây giờ.

    -Thuở bé, mày chỉ ở với vượn, nghe ai nói thế mà biết. Tàm kể chuyện. Đời vua Hůng Duệ có nàng công chúa Tiên Dong. Tiên Dong chẳng ưa ngồi góc lầu ro ró nhìn ra như cô cháu mình đâu. Quanh năm, Tięn Dong chơi thuyền ngoài sông, thường mảng vui nơi sông hồ, quên về. ở Chu Diên, trên sông Cái, có nhà họ Chử nghèo khó, bố con phải chung một khố. Bố chết, Chử thương bố, đŕnh liệm khố chôn bố, mình chịu ở truồng. Suốt ngày vùi thân dưới cát, đêm mới dám mò ra kéo cá kiếm ăn. Gần sáng lại về ngủ cạnh bụi lau trong cát. Một ngày kia, mới sớm, đã nghe tiếng sáo thổi, tiếng cồng dẹp đường, rồi thấy những cánh mŕn the quây quanh bụi lau. Tiên Dong bước vào màn, cởi xiêm áo, giội nước tắm. Cát trôi, chàng Chử tô hô ra trong cát. Tiên Dong giật mình, rồi trấn tĩnh lại, ngửa mặt lên trời, nói:

    “Ta vốn ước suốt đời thảnh thơi không biết ràng buộc. Nay gặp người cùng trong hố cát. Có phải trời xui khiến vậy không". Chàng Chử nói:

    "Xin Tiên Dong xá tội cho". Tiên Dong nói:

    “Đây lŕ duyên trời xe chàng cùng ta". Những người theo hầu về nói sự tình với vua Duệ. Vua Duệ giận quá. Sai quân quan đi bắt về. Nhưng quân gia ra đến nơi chỉ thấy băi sông bụi lau vắng tanh. Thuyền đă giong đi chốn trời nước nŕo không biết. Về sau, nghe nói vợ chồng Chử mở chợ lập phường ở một bến đông vui lắm tręn sông Cái. Mỵ Châu thở dài:

    -Nghe nói chuyện ấy từ thuở Hùng xa lắm chứ không phải vua Duệ đời trước đâu.

    -Thế mà người ta vẫn kể cửa miệng như mới hôm qua.

    -Biết vợ chồng Tiên Dong có còn không?

    -Muốn đi těm bến sông có phường chợ đông vui ấy ŕ? Mỵ Châu lại thở dài:

    -Phận mình hẩm hiu, đâu được phóng đăng thế mà mong. Hai cánh song đã đóng từ lâu. Trong bóng tối âm thầm, những nét mặt rầu rầu. Giọt nước mắt bỗng long lanh ứa ra.

    * * *

    Giữa bóng tối nửa đęm, một vòng lửa vung tròn, rồi tắt. ánh lửa làm hiệu gọi đò sang sông khuya. Rồi vòng lửa lại hồng rực xuống mặt nước, chập chờn soi bóng người quay mồi làm hiệu. Chỉ một thoáng sáng cũng trông thấy lượn lờ một con rùa bên đám lá trang. ánh lửa lại xòe tròn lên. Giờ đã trông rõ Cao Lỗ ngồi trên chiếc thuyền thúng đương bơi qua sông. Cứ mỗi lúc, lại một tay vung mồi lửa, một tay thoăn thoắt chém nước đẩy thuyền đi. Chiếc thuyền vút vŕo hào thành rồi ghé bờ. Cao Lỗ nhảy thoắt lên. Khi chiều còn trông thấy mặt thành sừng sững. Dưới cổng thành, người ra kín nước gọi nhau ơi ới. Những con trâu ngoài bãi về muộn, tiếng y uôm, nghé ngọ vào bóng tối. Giờ đây, cả một vùng lồng lộng trời nước, chi chít từng chòm, từng vầng sao, lẫn lộn không nhận ra đâu bóng sao trên trời, đâu ánh sao mặt nước. Cao Lỗ khoác trên vai chiếc tay nải. Cao Lỗ bước lên mặt thành. Đến chỗ đầu tường, Cao Lỗ đứng lại. Cao Lỗ ngước nhěn trước mặt. Dưới bến cũng như trên thành, trời vẫn tối đen. Cao Lỗ đứng tựa lưng vŕo tường. Im một lúc, nhìn ra khoảng không càng mù mịt. Cao Lỗ rút ống sáo cài trên tay nải. Tiếng sáo nhẹ nhàng thảnh thơi từ bóng tối thoảng ra. Tiếng sáo ấy thật kỳ, tiếng sáo khiến được vùng tối trước mặt sáng dần. Rồi giữa nền tường đá ong bờ rào xương rồng đen kịt, một khung cửa tròn sang sáng lên. ánh đèn trong lầu đã rõ hẳn. Giữa vùng sáng đčn bấc lung lay. Thoáng có bóng người. Cao Lỗ đến đứng bờ tường dưới khung cửa hẩng sáng. Tiếng sáo vẫn nỉ non. Rồi một lúc lâu lặng im.

    -Mình đi đâu mŕ lặn lội đęm hôm thế?

    -Tôi phải đi.

    -Đi đâu?

    -Tôi chỉ còn được tha tội chết lần này nữa thôi.

    -Trời ơi!

    -Tôi còn nhớ, ngoài hai mươi năm trước những đęm chạy giặc Tần, trời cũng đầy sao như đęm nay. Vua tôi chia nhau mảnh lá nằm lót lưng giữa trời. Chỉ mong chóng đến ngŕy thiên hạ yên hàn, không biết mùi phú quý ở đâu.

    -Xin đừng nói thęm những điều xót xa ấy nữa. Mình không còn ở lại được a?

    -Không được nữa. Trước sau tôi cũng chỉ nói thế. Vua chủ không nghe. Thế thě tôi chỉ còn cái chết chờ đợi.

    -Mình...

    -Mình nghĩ thế nào? Tiếng tù và ở một ụ canh đâu đấy nổi lęn. ánh sáng trong song cửa tắt ngấm. Vòm trời và mặt nước vẫn bát ngát ánh sao nguyên như lúc nãy. Bóng Cao Lỗ lặng lẽ trở xuống bến. Chiếc thúng vẫn đậu chỗ cũ. Cao Lỗ tần ngần vào đầu thuyền. Tiếng sáo lại mơ hồ đâu xa đâu gần. Cao Lỗ buông sáo đứng lęn nhìn ra phía tường thành. Tường thành mờ mờ lẫn vào nền trời đen sẫm. Cao Lỗ ngồi xuống. Lát sau hai bàn tay Cao Lỗ uể oải thả xuống mặt nước, đẩy thuyền từ từ ra. Bến nước sau lưng đă trở lại mịt mờ. Bỗng thấy một bóng người. Bóng ai thướt tha, thanh mảnh. Tiếng hát mơ màng lại. Khăn vuông ai đội Khăn điều ai vắt vai ai Cao Lỗ gọi:

    -Mình, phải mình đấy không? Cao Lỗ tất tả chèo vào lại bến. Bùi nhùi đã vung lên một vòng lửa. ánh sáng chập chờn ra khắp mép nước. Nhưng không thấy ai.

     

    Chương IX

    Nhiều đám người lố nhố đi tới. Lũ lượt từng đŕn trâu chen nhau. Người cầm roi chạy tất tả dồn trâu vào bãi cỏ xanh mởn trước mặt. Mái hiên lợp lá gồi nhà công quán dựng cuối bãi, bên bờ sông Cái. Hôm ấy, ngày hội chọi trâu để chọn trâu thịt, nhà vua sắm sửa rước lễ rửa nỏ trên mặt thành. Các quan ra hội chọn trâu, áo chàm ống tay rộng, thắt lưng điều bỏ giọt, vai khoác nỏ, tóc búi chít ngược theo một dải khăn nâu sẫm. Trọng Thủy vái Đô Nồi:

    -Tôi lại được lĩnh việc theo đức ông. Xin chỉ giáo cho. ạng Đô Nồi nói:

    -Việc các nơi đem nộp trâu thịt mừng hội rửa nỏ hằng năm vẫn theo lệ, không có gě khó. Người và trâu các cõi về ùn ùn vào bãi. Trọng Thủy nói:

    -Làng chạ đem trâu đến nhiều rồi kěa.

    -Đấy lŕ trâu đến chọi, chưa phải trâu nộp.

    -Đức ông cho chọi trâu sao?

    -Tục hội trâu chọi đă có lâu nay. Trâu cõi nào thua, cõi ấy phải gánh cả lệ nộp. Trâu khỏe để làm, trâu yếu mới thịt...

    -à...

    -Phong tục con người, mỗi nơi khác nhau mọi nhẽ. Nước ông thi ngựa, bắn cung. Chúng tôi chọi trâu, đánh vật, đấu roi, bắn nỏ. áo chúng tôi buộc dải, khác áo khuy tết của các ông. Những nhẽ ấy cũng chỉ thói thường trong thiên hạ. Lại một đám các quan xúm xít đi tới. Những chiếc quạt lá cọ cắt khéo che lęn lẫn giữa những chiếc quạt lông đuôi công sặc sỡ với quạt lông trĩ trắng. Chỉ trông thấy chân ngựa, chân voi bước thong thả. Người trong thành đổ ra, xúm xít quanh xe, quanh kiệu, lũ lượt về xem chọi trâu. Đô Nồi nói:

    -ạng ra đánh cồng cho các cői biết lệnh mà đưa trâu vào bãi. Trọng Thủy rụt rè:

    -Tôi cũng chưa được học thứ bậc nổi cồng thế nào. Đô Nồi đứng dậy, nhấc chiếc důi đầu buộc núm da hổ. Một tay giơ cao chiếc cồng. Đô Nồi giọt thẳng cánh một hồi ba tiếng rồi lại trở vŕo ngồi chỗ cũ.

    -Quả là tiếng cồng đức ông vang như tiếng trống trận. Đô Nồi nói:

    -Đây cũng lŕ trống trận. Vào trận, cả voi cả trâu cứ nghe hiệu cồng hiệu chiêng mà tiến.

    -Đức ông tŕi thật.

    -Người trong thiên hạ đều tài năng trọn vẹn mà lại khác nhau. Các ông cưỡi ngựa chiến, đeo cung lớn, tên dài một sải. Trọng Thủy cười nửa miệng:

    -Vâng, cung một sải...

    -Bắn như mưa rào. Trọng Thủy lắc đầu:

    -Nhưng không ví được với nỏ phương nam. Đô Nồi lại nói:

    -Năm trước, hai nước ta cňn mắc họa binh lửa, tôi đă được biết cung tęn các ông lợi hại thế nào. Trọng Thủy nói khẽ:

    -Chẳng thể đọ được với nỏ thần... nỏ thần... vâng, nỏ thần... Đô Nồi bỗng lặng yęn, chăm chắm nhěn Trọng Thủy:

    -Nhưng mà... ạng là quan triều...

    -Bấy nay, tôi đă được vŕo hàng thủ túc hầu vua chủ. Đô Nồi nghiêm mặt:

    -Đă biết vậy thì ông không được nói như thế. Hai tiếng nỏ thần là cấm kỵ. ạng phải biết giữ miệng. Mất đầu như bỡn đấy.

    -Dạ, thật quả tôi không biết, tôi không biết. Rồi Trọng Thủy ngơ ngác quay đi. Từng đŕn trâu các phía đương lũ lượt ngổn ngang tới nữa. Giữa băi đă dần dần đông nghịt những vňng người, lố nhố, nhấp nhô. Tiếng trống đồng rộn rŕng, thúc giục. Rồi tiếng cồng nổi chen tiếng trống. Trong ồn ào sôi lên, hai con trâu ra giữa bãi, có hai người trai trẻ cởi trần, đóng khố điều, khăn chŕm đầu rěu vắt vẻo ra theo. Một hiệu cồng vang rền. Hai con trâu giương cặp mắt ngầu đỏ, xô rập vŕo nhau. Tiếng reo dậy đất vang quanh băi. Những chiếc sừng trâu bóng loáng, cong vắt, khóa nhau, cọ nghiến răng rắc. Những con mắt trợn lồi, đỏ như máu. Vế chân choăi doãng ra, như cột đá. Cả mình con trâu xô lên, rõ từng sợi lông dựng ngược mồ hôi vã như tắm. Thế mà cái đuôi trâu ngắn tun hủn vẫn thản nhiên, vắt vẻo, phe phẩy như thường. Hai con trâu ngang sức đã quỳ cả hai chân trước xuống. Bốn mỏm sừng vẫn gài như buộc vào nhau. Mõm mũi đen sì tuôn rớt dãi phều ra, nhả xuống bãi, trắng như bọt bể. Mọi người nhìn hau háu, hồi hộp. Bỗng chốc, một trâu không chịu nổi sức đẩy khủng khiếp chùng cả bốn khoeo, nghiêng đầu rút sừng, cong đuôi bồn ra ngoŕi. Vó cất khấp khểnh, bước đứng bước quỵ, lảo đảo. Bốn bęn lại như sấm rền. Từng tiếng cồng thong thả. Tiếng cồng sau cùng ngân vừa dứt, tất cả các vòng người im chờ xem trâu cõi nào sắp vào bãi. Kìa hai con trâu đã hùng hục bước tới. Đi theo trâu, hai bô lão râu bạc như cước, áo nâu già, quần xắn móng lợn. Trâu Mi Linh trên đất đồi chọi với trâu kẻ bể Ninh Hải. Hai con trâu mới hung hăng, huỳnh huỵch xông vŕo nhau. ạng Đô Nồi oai nghięm đứng tręn thềm nhìn trâu chọi, tay điểm từng dùi trống. Tiếng đồng âm u rền giữa những tiếng reo cồn dậy bốn phía.

    Những chiếc sừng cà vào nhau, đâm nhau, cài lại ràm rạp. Hai con trâu móp bụng thở, rớt rãi trắng nhễ nhại trên cỏ. Trâu các cõi vẫn đương đối địch nhau ngoŕi bãi. Trâu kén lấy thịt cứ từng đàn lũ lượt đi qua. Đô Nồi hất tay, bảo Trọng Thủy:

    -ạng đếm, ông ra đếm. Cứ được đủ một bọn mười con thì cho dồn vào cổng thành. Đàn trâu nhông nhông bồn qua. Đô Nồi hỏi:

    -Quá trăm con chưa?

    -Dạ, được.

    -Lệ thế đủ rồi. ạng cho trâu cői nào thắng được trở lại. Các cõi trâu chọi rầm rầm đánh trâu về. Lại tưng bừng hội hát dọc đường. Quân quan đă lui hết, chỉ còn ngựa Đô Nồi thả bước một mình vào thành. Nhưng bụng Nồi hầu đương bồn chồn, không thảnh thơi như bước chân ngựa. Chỉ vì câu hỏi lúc nãy của Trọng Thủy về nỏ thần vẫn làm ông vương vấn. Mấy năm nay, bốn phương bình yên, thế mà mỗi khi trông thấy Trọng Thủy, ông lại áy náy. Tự nhiên, nhiều người cũng như ông. Thành thử, đương vui mà cứ đâm ra phấp phỏng. ạng Đô Nồi tự hỏi: ta quá lo hay lŕ ta nghĩ không đúng. Không biết bŕn bạc với ai. Cũng không biết lựa lời nói với vua chủ thế nào. Vua chủ vốn không ưa câu nói trái ý. Cũng vì thế mà các hàng quan triều cứ dần dà một vắng vẻ. Kể ra, nói nhẽ khác, cũng là phải. Lúc bình thời, quân quan về cõi, lo đồng bãi, lo tập tành, hằng năm lại vào các hội thi tài. Thói tục phép quân và việc làng xưa nay vẫn thế. Nhưng mà, khốn thay, không phải ai ra ở cõi cũng là do an bài theo nền nếp. Nhiều người phải đi, bởi không muốn gai mắt ở lại. Bởi sợ vua chủ không muốn nghe ai nói khác. Ba anh em Phạm Chung, Phạm Túc, Phạm Hòa đã lui về mở đất ngoài ngã ba sông Cái. Các ông Đinh Toán, Đinh Công Tuấn cũng lấy cớ văn việc quân, xin ngược về quê trên ngọn nước. Anh em Cao Lỗ, Cao Tứ thình lình bỏ đi đâu không biết. Trong hŕng quan ngày nay, những người theo vua chủ từ thuở gối đất, còn trơ trọi ba bố con ông Đô Nồi. Mỗi năm hội vő, lực sĩ các nơi về đông đảo, lại kén được vŕo hàng quan nhiều người trẻ, nhưng đám quan triều cũ thì cứ ngày một lơ thơ đi, chẳng còn mấy. Mà có những hầu, những tướng ở quan đã lâu, cũng có người bực bội, có người chán nản, đâm ra ham mê rong chơi, chè chén. Mấy năm rồi mà vẫn lại chỉ bố con ông Đô Nồi giơ tay cũng đẩy ngă các hàng quan thân cận. Mỗi lần các quan vào hội thử sức, chẳng còn hào hứng đâu. Những lo lắng ngổn ngang ấy dẫn ông Đô Nồi ruổi ngựa vŕo dinh vua chủ. Đô Nồi đă kể lại với vua chủ những điều měnh nghĩ. Không thể dè dặt, phải nói hết. Vua Thục nghe, im, rồi nói:

    -Thời thiên hạ rối loạn, lấy chiếc nỏ mũi tên làm trọng. Thời thái bình lấy hạt thóc ống cơm là giường mối. Các ông ra mở cõi, ta thật bụng nghĩ thế. Cốt đừng ai làm trái ta, dối ta. Bốn phương đã phẳng lặng, việc quân đã ngơi, quan quân về cày cuốc, lo tuần phòng, có chơi nhởi, say sưa cũng là điềm đất ta đă hết xao xuyến, khốn khổ. Còn như vua Triệu với ta thuở nay đã nên đôi bên thông hiếu.

    Trọng Thủy được ở rể đây. Xá gě câu nói tò mò của đồ trẻ nhỏ cũng như mọi lời sàm báng sau lưng. Còn như ông đe nẹt Trọng Thủy thế là phải. Biết, chỉ có ta biết nỏ thần mà thôi. Đâu đấy tuân thủ nghięm ngặt bao năm nay vẫn thế. ạng yęn tâm về nghỉ. Đô Nồi không nói thế nŕo hơn được nữa. Con ngựa lại thong thả nhấc bước. Nhưng lňng người càng ngổn ngang nặng trĩu. Rồi chẳng bao lâu đã đến ngày hội rửa nỏ. Thuyền mảng người đi xem chen nhau ghé các bến quanh hào, cạnh dải bờ tre bao bọc tường thành. ở đôi chỗ trống, trông ra thấy dòng sông vươn mình đỏ ngầu. Trên mặt nước, những chiếc thuyền thúng tròng trành, người ngồi thả hai bàn tay, nhẹ nhàng chém nước. Những chiếc độc mộc đuôi cong mũi nhọn, mỗi bęn mạn có tới năm mươi tay khoan thai chčo. Giữa thuyền, một ông già đứng, râu trắng bạc phơ bay bay. Trên tấm khố lục, khoác chiếc áo năm thân không dải, tay cầm hai thành xênh trúc. Tiếng xênh rộn rã nhịp cho các tay thoai thoải chèo. Trọng Thủy tựa cửa, đăm đăm nhěn ra mặt nước nhộn nhịp thuyền đổ người vŕo các bến cổng thành. Dòng sông cũng đương miên man đưa Trọng Thủy nghĩ lại về ngày ra đi. Tính đốt ngón tay, chốc đă bao năm rồi. Trọng Thủy nhớ lời cha dặn. Cái nhớ ấy vẫn nhớ. Nhưng quả thật có đậm có nhạt nổi chěm mỗi lúc. Có khi bối rối. Có khi lặng lờ. Nhưng mà nhớ vẫn nhớ.

    -Con ơi! Đến chết cũng không nhắm được mắt.

    -Vài năm nữa, dân tình nguôi nguôi cái sợ, ta lại mộ quân, luyện binh.

    -Sức người chọi với thần thì bằng đem trứng chọi đá. Không được.

    -...

    -Bao nhiêu đêm nay, cứ nửa đêm ta ra nhìn trời, bỗng thấy phải hẵng khoan việc binh.

    -...

    -Không còn việc cánh cung, mà là việc đầu lưỡi. Chước này phải biết luỵ.

    -Nhưng vua Thục đă rõ ta cạn quân rồi.

    -Chim sẻ chim ri làm sao biết được chí chim hộc, chim hồng. Cái khó này chỉ mỗi một mình con gỡ được.

    -Xin lĩnh mệnh cha. Trọng Thủy vẫn đương bồi hồi nhớ lại. Nét mặt đau đớn sa sầm, có lúc tái ngắt. Có lúc tự dưng Trọng Thủy giơ tay sờ lên lằn khăn trên đầu rồi cúi nhìn tấm áo nhuộm vỏ dà rộng thùng thình. áo đất Kẻ Chủ mặc đă bao năm. Cũng bằng người ở đây rồi. Bất giác, Trọng Thủy thở dŕi, nặng nề não nuột cúi mặt xuống. Mỵ Châu nhấc mành bước ra. Trọng Thủy dường như không biết. Trọng Thủy vẫn mải nhìn ra dòng sông. Lại nghĩ đến những năm tháng đôi vợ chồng trẻ... Nghĩ đến lẫn lộn, hoảng hốt. Trọng Thủy giật měnh, nhìn Mỵ Châu. Mỵ Châu không để ý, bước tới.

    -Mình chưa đi hầu à? Trọng Thủy bình tĩnh lại, lơ đãng:

    -Chưa nghe tiếng chiêng mở cổng thành mà. Mỵ Châu cười:

    -Chiêng nổi mấy hồi rồi kia. Trọng Thủy giảng giải:

    -Đấy lŕ chiêng giục nhấc rào cho thuyền các vạn ngoài sông vào. Sau mới đến lượt chiêng mở cổng thành cho các cõi xem hội. Mỵ Châu nói:

    -Mình nhớ lệ quá. Trọng Thủy đếm ngón tay:

    -Tám năm, ờ, tám năm rồi. Mỵ Châu ngơ ngác:

    -Mình sốt ruột a? Phải đếm từng năm a? Trọng Thủy không nhěn Mỵ Châu, nói:

    -Vợ chồng chỉ có một đời, lŕm gì có từng năm mà đếm được, tôi không... Giữa lúc ấy, dưới chân lầu, ngân ngư nổi một hồi trống. Tiếng đồng âm vang dŕi xa mãi tận đằng kia. Mỵ Châu nói:

    -Trống rước vua cha lên thành đấy. Mình ra theo hầu người đi. Trọng Thủy bước xuống thềm, men theo một dãy tường phủ những dây móng rồng lá xanh dày. Cánh hoa móng rồng vàng muốt, cong cong như ngón tay búp măng. Những con sáo mỏ ngà đậu trên cành trúc trước mặt. Cả khoảng vườn đan thành chiếc lồng lớn, khiến cho sáo trong lồng ngỡ nhởn nhơ trong cây. Thấy bóng người, hai con chim sáo bay đến bụi trúc, cất tiếng nói:

    -Nhà có khách! Nhà có khách! Khách! Khách! Cả đàn chim sáo trong cây ríu rít nói theo: Nhà có khách! Nhà có khách! Trọng Thủy xăm xăm tới, mắm môi, kiễng chân, với tay lęn đập mạnh một cái. Cả mấy con sáo rơi xuống đất. ở trong nhŕ chạy ra, Mỵ Châu kêu lên:

    -Sao bỗng dưng giết chim thế? Trọng Thủy hằm hằm nói:

    -Ta là chủ, ta là chủ... Mỵ Châu ngậm ngùi nhìn xác chim:

    -Tội con chim học nói thôi. Hội rửa nỏ ngoài kia đã đương nhộn nhịp khắp đất Kẻ Chủ.

    Chỉ còn có một mình Mỵ Châu ngẩn ngơ đứng đấy thương con chim chết. Người các nơi vào thành, mỗi lúc một đông. Mỗi nhà các làng ven nội đến các trường, nhà nào cũng làm cỗ cúng. Những thúng xôi trắng, xôi gấc, những vò rượu, mâm oản, rồi cả tảng thịt trâu thui, cả con lợn thui. Lại từng mẹt trầu không, cau tươi, một cây vỏ ăn trầu đỏ lịm dựng giữa ngă ba đường. Người đi qua nhặt ăn một khẩu trầu cho ấm miệng. Những bó hương đen nhả khói ngŕo ngạt. Đường cái bộn những người. Giữa ban ngŕy mà chốc lại thấy một bọn vác ngang cây liệu trên vai. Đuốc cháy, lửa phừn phựt, khói tuôn nghi ngút. Bọn ấy đă đi suốt sáng từ nơi xa về. Từng đám tụ lại các ngă ba ngã tư, nhường đường cho những toán quân rầm rộ trảy từ bốn phía chân thành vào. Những con ngựa chiến cao lớn bước nối nhau. Bộ cương bằng thừng nhuộm điều quấn quanh cổ, vòng xuống tận khấu đuôi. Những hàng quân đeo nỏ ngồi ngay chăm chắm tręn lưng ngựa. Người nào cũng mình trần lưng ngực nổi vết xăm chàm vằn vèo. Hai cánh nỏ như hai tán quạt, thân nỏ dài đến mười đốt trúc. Một vai khoác ống tęn che dưới lá khiên ken mây. Ngựa thong thả bước một, cứ nghe hồi cồng lại cất vó chồm lên. Rồi những thớt voi trận thủng thỉnh tới. Con voi gồ ghề như tảng đá. Trên đầu voi, người quản tượng ngồi vắt vẻo, cởi trần trùng trục, cũng khoác nỏ như quân cưỡi ngựa. Một tay quản tượng cầm chiếc vồ gõ một hồi chiêng xong rồi thẳng cánh bổ xuống đầu voi. Những con voi đương thủng thỉnh bỗng cất vňi, bồn vào làn bụi mù mịt. Ngoài cổng thành, thuyền mảng đậu chi chít như trải chiếu trên mặt nước liền vào tận chân cầu. Người chen nhau lên bến. Các cụ lão ông mặt đỏ như gấc, áo cởi phanh tơi tả, nghênh ngang như vừa ở đám cỗ bước ra theo con cháu đi hội. Các lăo bà, chân đất, váy chàm. Các cô váy điều, váy hoa hiên tươi màu mở ra từng nếp. Trên khăn vuông, dải yếm, thắt lưng buộc theo những chiếc lông đuôi công tím biếc, lông trĩ trắng, lông chim trả hồng. Các cô nŕng đi như có hoa rắc theo, như có đŕn bướm giỡn lỏa tỏa quanh. Bọn người đương đi tręn các ngả đường bị các đŕn voi, đŕn ngựa đẩy dồn lại, đứng bối rối, luống cuống chưa biết đi lęn thế nào, lại thấy mỗi lúc mỗi đông những ông quan võ oai vệ áo giáp da trâu nhuộm lục che ngực, đai lưng thắt khóa đồng, tay cầm rěu đồng bước oai nghięm. Người sấn đến xem lại phải giật lůi, giạt sang hai bên. Vừa có tiếng cồng rước vua chủ trong thành đi tới. Hai hàng đôi bên xách cồng là những cô gái vấn khăn chằm ngược, váy xắn cao.

    Đội cồng dẹp đường cho vua chủ ra. Vua Thục mặc tấm áo vóc đỏ, buộc dải lụa. Voi đi giữa hai hŕng quạt vả lông trĩ sặc sỡ che xuống hai bên bành voi. Quản tượng ngồi trước, giơ chiếc vồ gỗ tròn thu lu. Đằng sau, đến đám ngựa các quan rồi lại tiếp một lũ voi thồ. Tręn lưng mỗi voi đặt cả chục cảnh rượu rửa nỏ. Người quản tượng quay lại cầm mảnh vải điều phủ xuống miệng những chiếc cảnh cao. Một con voi khięng mâm chõng xôi trắng đơm đầy ngọn. Tręn bày nguyên một con lợn thui. Quản tượng voi ấy đứng trên lưng voi cạnh chõng xôi ngự. Rồi đến một hàng ngựa quân hầu. Có người ôm trên tay một con gà chọi, đuôi dài lê thê. Lại một đoàn long đình tiến ra. Những chiếc kiệu che vải điều, tám người khiêng. Những chiếc xe trâu kéo bọc da gẫu đen tuyền, da báo loang lổ. Phân rõ ngôi thứ vợ vua, con vua. Lại những người khiêng chiếc kiệu gỗ che vải chàm, trên xếp cảnh rượu, mâm xôi, mâm thịt lợn thui, lợn luộc có cô nàng hầu ngồi ghé cầm quạt lá cọ che. Một ông quan lạc cưỡi ngựa đi đóng đám. ạng quan nhấc tů và khoác bên vai, nhìn lại quãng đường vừa đi qua, cất tiếng ốc gióng giả một hồi dŕi. Người hai bên đường ồ ra, ùn ùn chạy theo. Tiếng reo lẫn trong tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng trống đồng. Khói cây đěnh liệu cả giữa ban ngày vẫn lên ngùn ngụt. Từ mặt nước vào chân thành, vào các phường cứ đông ghế người lên. Những túp lều, những quán tre, không biết nhà ai, chòm nào phường nào mới dựng, chỉ sơ sài có mấy chiếc cọc trống mà cũng bộn người ngồi ăn trầu vŕ từng bọn đứng hát xúm quanh. Bęn kia, gió thổi ngả nghiêng bờ tre. Đông người quá. Những đŕn bò trong bụi tre sợ đến vỡ tổ, bay hối hả qua mặt nước. Trên thành, suốt bốn mặt, dãy thềm đá đặt nỏ chạy dŕi sang tận góc đằng kia. Có đến hàng nghìn tay nỏ đã túc trực. Sau bệ, những đống trầm hương, đống quế được chất lęn như gò củi. Khói nghi ngút thơm lừng. Mỗi quãng có một lực sĩ, tay cầm dựng cây đuốc. Lửa lên ngọn rừng rực giữa ban ngày. Ken quanh từng quãng đuốc, những cô gái đội cồng nghiêng người khoan thai giơ tay cầm dùi nghiêm trang gõ cổng. Những chiếc lông trĩ ngũ sắc óng ánh được gài vào đuôi mũi tên đã đặt lên mỗi máng nỏ. Bao nhiêu tay nỏ khố chàm cởi áo buộc xuống thắt lưng, lưng người nào cũng to một ôm như tượng đá. Mỗi tay quỳ một gối bên cánh nỏ. Hai mắt chăm chắm, đợi lệnh. Trước gối mỗi người đặt một cái kỷ. Tręn mặt kỷ, lót tầu lá chuối, lù lù một đấu xôi nếp tím thẫm. Trên mỗi đấu xôi úp ngược bày một con gà luộc. Những mâm xôi trắng đầy có ngọn, cả con lợn thui vàng sẫm đặt tręn mặt xôi. Vua Thục đứng giữa thềm đá tręn mặt thành. Vua Thục cầm một sừng trâu rượu giơ lên. Tiếng cồng rền theo tay rượu. Các tay nỏ bốn mặt thành vùng phất dậy, rút chiếc sừng trâu giắt bên lưng, nhấc quai cảnh rượu đặt cạnh bệ, đổ đầy một sừng, rồi quỳ xuống. Trong tiếng cồng đánh đổ hồi, mỗi người dốc ngược sừng rượu vŕo giữa thân nỏ. Những chiếc vạc đồng đun rượu bắc tręn những tảng đá. Lửa củi đỏ rực. Rượu hâm lại đă sôi sùng sục. Các cô đội cồng đến vục chiếc liễn sŕnh da lươn vào múc rượu nóng, đem ra đổ vŕo từng sừng rượu cho các tay đô lŕm lễ rửa nỏ. Tiếng cồng nổi vang. Suốt chân thành, rung chuyển tiếng ngựa hí, tiếng voi gầm. Trọng Thủy chạy đến trước mặt vua Thục, quỳ phủ phục. Vua Thục ngước nhìn ra. Vua Thục xắn áo, với tay cầm một chiếc lao trúc, bước lại đầu tường thŕnh. Ngọn lao buộc một túm lông chim trĩ màu rực rỡ phóng bay lên rồi rơi xuống mặt nước dưới kia. Như quả còn đuôi lua tua các màu cầu vồng. Lệnh cho nỏ bắn đã ban ra. Các mặt thành đã nhìn thấy mũi tên lông trĩ vua chủ ném xuống. Quân reo rầm rầm trong tiếng dây nỏ bật. Tên bay chíu chít, mặt sông bóng mờ như sương phủ. Những đàn ống bương lệnh nổ như sấm. Một ông lạc tướng, tay cầm dùi, tay giơ chiếc chiêng đại. Quang cảnh càng uy nghi, dồn dập. Tiếng chiêng rền vang. Lại một ông quan võ cầm chiêng lên. Tiếng chiêng nối tiếp, làm lệnh cho các làn nỏ bắn ra. Từng khoảng trên tường thành, mỗi khi nổi tiếng chiêng lệnh, nét mặt, ánh mắt quân quan lại kiêu hãnh nhìn nhau. Trọng Thủy quỳ rạp trước vua Thục:

    -Xin vua chủ cho lệnh.

    Lúc ấy, có những con mắt trợn ngược dưới làn trán díu nhìn sang Trọng Thủy rồi lại quay ngoắt đi. Chiêng vẫn rền vang. Những tay nỏ thoăn thoắt rút tên trong ống, tì thân nỏ trên tấm ngực trần, thả chiếc tên vào máng, làn cây bật liên tiếp theo nhịp chiêng thúc. Những mũi tên lủa tủa nối nhau đến lóa mắt, xám trắng như bụi, như khói, lan mờ trên mặt nước. Tiếng người reo, tiếng ngựa hí. Hội rửa nỏ rầm rộ nhất khi đến những quãng chiêng thúc nỏ bắn dồn dập này. Vua Thục oai phong đứng giữa bao nhiêu rộn rã, tiếng quan sôi nổi bốn bề. Nhớ lại, những cái lo, cái ngại, cái nghi của anh em Đô Lỗ, lúc này cứ làm lửa giận bừng bừng. Cả nghìn voi ngựa vào trận, cả vạn tay nỏ một lúc bật cánh, đến mặt trăng cũng phải thủng. Uy dũng nhường kia mà chúng họ vẫn ngơ ngác thảng thốt như ngày còn bơ vơ trốn lủi ngoài nghìn dặm, phải nhổ nước bọt đánh dấu đi nhanh đi chậm. Thủ túc ta bạc nhược quá rồi. Phải đâu ta sao nhăng việc quân. Không, quanh năm ta đi tuần thú cői ngoài, lặn lội đến những nơi thật hiểm, bây giờ vẫn như ngày trước. Việc quân, việc đồng bãi. Kho tàng, binh lương lúc nào cũng ăm ắp. Mũi giáo, mũi lao, lưỡi rìu, tên ba cạnh múi khế, áo giáp da trâu đủ dùng mười cõi. Đâu đấy nghięm ngặt ngày đêm sẵn sàng. Ai chểnh mảng, khác mắt, bất kể người ngồi chiếu nào, đều phải chịu tội phạt trượng rồi điệu xuống lŕm quân vào rừng bắt voi, bắt ngựa. Chẳng một lúc ta ngơi tay, ngơi nghỉ đâu. Mới cả tháng vừa rồi, ra ngồi thuyền xem quân thủy luyện nỏ suốt cửa sông Cái, rồi về thẳng đây dự hội rửa nỏ này. Giận thay, giận thay. Chân tay ta có người đã thảng thốt, mỏi mệt mất rồi. Nhưng ta thì không. Vua Thục cứ vừa đăm chięu lại vừa hào hứng nghĩ thế. Quân trên các mặt thành trảy xuống các đường vòng thành gập ghềnh, cuồn cuộn. Tan lễ rửa nỏ ở đây, hội bắt đầu về các phường ra tới ven nội. Suốt đęm ba mươi, cơ chừng trời đất Kẻ Nhồi, Kẻ Vang, Kẻ Chủ nŕy thành sáng trăng đến sáng. Đô Nồi bước tới trước mặt vua chủ. Vua chủ hỏi:

    -ạng chưa về hội vui trong thành, còn ở đây làm gì? Đô Nồi nhìn vua chủ vẫn đương ngoảnh mặt ra ngắm những đoŕn quân rầm rộ xuống bậc thành quanh co, rào rào như nước lũ réo. Tiếng chiêng hội đã nổi rền lan khắp các phường xa xa. Đô Nồi bỗng xẵng giọng, hằm hằm nói:

    -Hết người rồi sao, cả lớp quan lạc vừa tuyển hội võ năm nay không được người nŕo sao mà vua chủ lại để đứa con tin vŕo dâng lời xin mở lễ rửa nỏ! Vua Thục quay lại nhìn Đô Nồi, như ngạc nhiên về câu nói bộc trực. Tiếng vua Thục bỗng vang như chiêng gióng:

    -Chỉ quanh quẩn những tiểu tiết vặt vãnh ấy, thế thì làm tướng lo đại sự thế nŕo! ạng đă biết rồi, đến đęm nay mới là chính lễ rửa nỏ thần. Một mình ta sắp lên thành cấm, chỉ có một mình ta với trời đất trên thành cấm. Đấy mới là việc trọng nhất cõi. Mà ông không được nói xàm. Trọng Thủy nay là người trong nhà... Rồi vua Thục nghiêm mặt:

    -Ra ngay! Đô Nồi cúi mặt, bước lůi. Đęm ấy, gọi hai tướng Đống, tướng Vực đến. ạng Đô Nồi khóc mŕ nói:

    -Vua chủ ta lẫn lộn mất rồi. Trong thành Kẻ Chủ vẫn đương hội vui. Hôm sau, vợ chồng con cái ông Đô Nồi trở về Chięm Trạch.


    Nhắn tin cho tác giả
    Huỳnh Hoàng Thám @ 14:42 14/07/2011
    Số lượt xem: 196
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chúc quý thầy (cô) vui vẻ!